CHƯƠNG XI: NGƯỜI CHÂU ÂU SANG NƯỚC VIỆT NAM

(Sĩ Đoan)

CHƯƠNG XI: NGƯỜI CHÂU ÂU SANG NƯỚC VIỆT NAM là bài thơ của tác giả thuộc thể loại . Mời các bạn cùng đọc và thảo luận.


1. Sự đi tìm đất

Người Châu Âu sang Nam buôn bán
Mở cửa hàng ở phố Hội An (1)
Bởi nơi đây rộn ràng đông đúc
Dân Á- Âu tá túc làm ăn (2).
Đất Thuận Hóa có lò đúc súng
Đúng giáp dần vào đời Chúa Sãi (3)
Mãi bây giờ gọi là Phường Đúc.

Tận ngoài Bắc thu hút người Âu
Bồ Đào Nha vào lâu buôn bán
Năm đinh sửu thỏa đáng Hòa Lan (4)
Vào phố Hiến- cửa hàng rực rỡ (5)
Càng về sau càng trở đông vui.
Dân ngược xuôi ngoại quốc xa gần
Nếu kể ra – nóc gia hai ngàn
Tạo dễ dàng tục ngữ khó phai-
“ Thứ nhất Kinh kì, thứ nhì phố Hiến!”.

Hai thế lực thực sự kình chống
Giống như nhau nương nhờ thương gia
Vì lợi nhuận ít ra giúp đỡ
Thêm tông giáo cản trở khắc khe…
Đến canh thìn Hòa Lan rời Bắc (6).

Năm nhâm tý có Anh Cát Lợi (7)
Đem tàu vào- ngỏ- đợi bán buôn
Thời gian trôi thua buồn tự rút
Bởi chiến tranh sa sút khó nghèo.
Năm canh thân người Pháp Lan Tây (8)
Xin vào đây ngụ ngay phố Hiến
Việc buôn bán lúc tiến lúc lùi.

Năm nhâm tuất niềm vui đưa tới (9)
Người Tiêm La rộng nới tình thân
Đi tàu biển vào dâng phẩm vật.
Năm bính dần sự thật trong Nam (10)
Rằng người Pháp thích ham buôn bán
Được tự do cán đán Côn Lôn.
Năm kỉ hợi xôn xao cửa Hội (11)
Xin yết kiến dâng vội quốc thu
Cùng phẩm vật tỏ tình giao hiếu.
Chúa phúc đáp thuận Pháp thông thương…
Dường chưa lâu cũng lui về nước.


2. Sự đi truyền giáo:

Thiên Chúa Giáo có tự xa xưa
Do Gia Tô mới vừa sáng lập (1)
Dạy con người tục tập yêu thương
Giàu vị tha nhúng nhường mọi lẻ…
Kính Thiên Chúa là đấng cứu nhân
Truyền tất cả bất phân tộc nào.
Sau môn đồ giảng đạo nơi nơi…
Bị giết hại chẳng lơi buông thả.
Mãi về sau La Mã thuận tình (2)
Cho giảng đạo thành thạo cả nước
Rồi từng bước Thiên Chúa thịnh dần
Lập Giáo Hoàng- việc cần thống nhất.
Hễ nơi đâu có đất có người
Có giáo sĩ bền bỉ giảng đạo.

Năm Nguyên Hòa nhà Lê Trang Tông (3)
Có người Tây lưu thông đường bể
Vào nước Nam thường để giảng truyền
( Làng Ninh Cương, Quầng Anh, Trà Lũ).
Năm bính thìn đời ông Nguyễn Hoàng (4)
Có giáo sĩ băng ngàn truyền giáo
Thêm mấy tàu nhập cảng phương nam
Chúa Nguyễn sợ lòng tham không đáy
Ngày mai đây gặt hái đau thương
Bèn đuổi đi chẳng vương chẳng nợ.

Năm ất mão có sợ cũng đến (5)
Năm giáp tý ai mến ai thương? (6)
Pháp Lan Tây giảng thường Phú Xuân
Lập giáo đường Chúa ưng Chúa thuận.

Năm bính dần bất luận ra sao (7)
Đời Thần Tông cũng rao giảng đạo
Trịnh cấm ngăn- bôn đào xứ khác.
Rồi ít lâu như bát nước đầy
Bởi đã dâng đồng hồ quả lắc.
Lòng nhộn vui tâm đắc giảng truyền
Như bến cảng mặc thuyền đi đến
Dân theo nhiều hết mến đạo Nho.
Vua, Chúa sợ mới cho tả đạo
Cấm đoán nghiêm nên tạo bất hòa.

Năm tân vị quả là Lan Cấm (8)
Năm quí tỵ Trạc đấm kẻ truyền (9)
Năm giáp thìn Chúa Hiền bắt giết (10)
Ai bất tuân mải miết ru dân.
Năm bính tí Trịnh Căn đốt sách (11)
Phá thánh đường xua sạch giáo sĩ.
Năm nhâm thìn bền bỉ cản ngăn (12)
Cương bắt phạt nhân dân theo đạo
Cạo khắc trán:” Hoa Lan Học Đạo”.
Năm giáp tý Lan tạo hố sâu (13)
Giết tất cả nơi đâu truyền bá
Nghiêm cấm dân há để noi theo.

Bọn giáo sĩ ngày đeo ngày bám
Cốt giảng rao chẳng dám buông lơi
Dẫu đầu rơi, máu đổ, thây phơi…
Cố dẫn dụ người đời theo đạo.
Mãi về sau tạo vách ngăn đôi
Chia Lương – Giáo ôi thôi cừu hận!
Luật lệ thường khó chận lê dân
Dùng cực hình – bao thân vô tội!

Thảo luận cho bài thơ: CHƯƠNG XI: NGƯỜI CHÂU ÂU SANG NƯỚC VIỆT NAM - Sĩ Đoan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *