PHẦN II : BẮC THUỘC THỜI ĐẠI

(Sĩ Đoan)

PHẦN II : BẮC THUỘC THỜI ĐẠI là bài thơ của tác giả thuộc thể loại . Mời các bạn cùng đọc và thảo luận.


CHƯƠNG I: BẮC THUỘC LẦN 1:

Hơn bảy mươi năm rơi vào Bắc thuộc
Vuột Tây Hán dân ta vẫn khổ(1)
Nhờ Quang, Diên dụng chỗ tình thân(2)
Đem lễ nghĩa dạy dân làm gốc
Dạy cày bừa, khẩn đất hoang du…
Chẳng bao lâu thóc đủ no lòng.
Dạy cưới hỏi, lấy chồng lấy vợ
Xuất của riêng cứu trợ người nghèo
Vì lẻ ấy dân theo kính mến
Lập đền thờ- thờ đến thiên thu!
——————————
CHƯƠNG II: TRƯNG VƯƠNG

Nhà Đông Hán chẳng tu nhân lễ
Đáy lòng tham chẳng thể đong đầy
Vét tất cả sức người sức của
Bủa lên rừng xuống tận bể sâu
Đi đến đâu gieo sầu gieo khổ
Nhổ không chừa nếu khó thuận ưng.
Năm giáp ngọ- Tô Định- Thái Thú (1)
Bộ Giao Chỉ gầm rú thở than(2)
Năm canh tý giết chàng Thi Sách
Mối căm thù anh ách muôn dân
Dồn sức mạnh người thân Thi Sách-
Vợ Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị
Đôi gái tài ở huyện Mê Linh
Con Lạc tướng ngụ làng Hạ Lôi
Cùng nhân dân sục sôi đánh giặc
Đuổi quân thù trốn bặt Nam Hải
Quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố
Cố đồng tâm tận lực Nhị Trưng
Như thác đổ dời non lấp bể
Sang thành trì dễ trở bàn tay
Sáu mươi lăm thành chớ một, hai
Rồi xưng vua ngự ngay Mê Linh.(3)
Năm tân sửu Mã Viện đánh tràn (4)
Men bờ biển phá rừng đào núi
Giáp binh Trưng mất trận kinh hoàng.
Quân ô hợp rã tan nhanh chóng
Bà rút về trú đóng Cẩm Khê(5)
Vừa xây dựng vừa lo bá tánh
Nhưng quân thù quyết đánh sạch sanh.
Sông Hát Giang lưu danh muôn thuở
Khí tiết Bà rộ nở non sông!
Nhân dân ta tỏ lòng kính mến
Đấng anh hùng phận nữ trung cang
Lập đền thờ khắp chốn dương gian
Mùng sáu tháng hai- vang lễ hội
Tưởng nhớ Bà – sống dậy non sông!!!.

————————————
LỜI BÌNH
Ba năm phận nử kì tài
Vung tay lật đổ thành trì ngọai bang
Tiếng tăm lừng lẫy xa vang
Vua tôi Nam Hán hoang mang cực kì.
Ngàn năm sau chẳng so bì
Cúi đầu nô lệ ôm ghì đau thương!
cãm thay, hai đấng Trưng Vương
Anh hùng trung liệt đảm đương nước nhà!


CHƯƠNG III: BẮC THUỘC LẦN 2 (43-544)

1- ĐÔNG HÁN ( 25-220)
Đất nước ta rơi vào Đông Hán
Dựng trụ đồng phân dáng phân khu (6)
Khắc ” Đồng trụ chiết- Giao Chỉ diệt” (7)
Dọa dân lành chớ thiệt gì đâu!
Thời gian lâu dần trôi nên núi (8)
Tận bây giờ biết bới đâu ra.
Từ ngày ấy Hán ta sa súc
Bọn quan tham ra sức hòanh hành
Bắt dân lành xuống bể mò trai…
Lên rừng rậm săn nai, tê giác…


Mãi cuối triều- Nội Cát đổi thay
Người bản xứ không ai- Lý Tiến (4)
Cất lên làm Thứ Sử Giao Châu:
“Xin người tài được bổ làm quan” (5)…
Vua Hán đế còn đang trù trì…
” Bổ Mậu tài hoặc Hiếu liêm thôi
Làm trong xứ chứ chẳng rời xa”.
Chàng Lý Cầm cũng ra nài nỉ(6)
Mới xiêu lòng Hán đế thuận ưng:
Bổ Mậu tài- quan lệnh Hạ Dương;
Bổ Hiếu liêm- quan lệnh Lục Hợp.
Càng về sau cũng gộp như Tàu.

Cuối Đông Hán nhờ vào Sĩ Nhiếp (7)
Kíp chăn dân kỉ cương phép tắc
Được tin yêu- tâm đắc lòng người
Được tôn vinh sánh vị anh tài
Bỏ tên thường ngày gọi Sĩ Vương.
Năm quí mùi đời vua Hiến đế (8)
Quan Trương Tân cùng quan Sĩ Nhiếp(9)
Viết sớ dâng- đổi thành Giao Châu.

2. Đời Tam Quốc
a- Nhà Đông Ngô

Vận nước suy vi Đông Hán mất
Nhưng sơn hà nội thuộc Đông Ngô (10)
Năm bính ngọ vô cùng thương tiếc (11)
Vị anh tài Sĩ Nhiếp qui tiên.
Con Sĩ Huy tự xưng Thái Thú
Tài trí lú- liên lụy anh em(12)
Đưa dân tộc vào vòng đen tối
Tự trói mình quỳ gối ngọai bang.

b- Bà Triệu ( Triệu Thị Chinh-248)

Năm mậu thìn Bà Triệu khởi binh(13)
Nghìn tướng sĩ tôn vinh chủ tướng
Dáng kiêu hùng dũng mãnh đa mưu
Tài túc trí nữ lưu anh kiệt
Giương ngọn cờ tiêu diệt xâm lăng
Đánh kẻ địch hung hăng bạo ác
Quét quân thù ra khỏi bể Đông
Hòng cứu dân thóat nơi đắm đuối.
Bà xung trận cưỡi voi mặc giáp
Tự xưng hiệu- Nhụy Kiều Tướng Quân.
Thứ Sử Giao Châu là Lục Dận
Đánh với Bà lận đận, gian nan…
Năm sáu tháng quân tan Bà rút
Chốn Bồ Điền trọn giữ tiết danh (14)
Đôi mươi xuân xanh đành gởi lại (15)
Vẫy lời chào lệ đẫm tuôn rơi!!!
—————————-
LỜI BÌNH
Phút lặng yên cúi đầu tưởng niệm!
Nữ anh hùng bất khuất kiên trung
xuân xanh gát lại- đề non nước
Sáng mãi thiên thu- đáng tự hào!!!


3.Nhà Tấn:

Năm giáp thân, nhà Ngô cắt đặt (1)
Đất Nam Việt thành Giao- Quãng Châu
Khắp nhân gian đâu đâu cũng oán
Giết Thái Thú quay hàng nhà Ngụy.

Năm ất dậu, nhà Tấn chiếm ngôi (2)
Năm canh tý , nhà Ngô sụp đổ (3)
Giao Châu thổ chẳng dễ chút nào
Chuyền qua lại… chuyền vào nhà Tấn.
Quan sở tại tham lam lấn lướt
Bọn nghịch thần- mạng tướt lẫn nhau
Gây xào xáo gươm đao lọan lạc…
Dụng cơ hội Lâm Ấp khuấy nhiễu (4)
Đôi ba năm cướp phá một lần
Vật chất tinh thần ngày sa sút…
Năm canh thân mới rút cổ đầu (5)
Luân phiên tiến cống- voi, vàng bạc…
Bấy giờ tạm đạt mộng ước mơ!
Đấy nhờ công ông Đỗ Tuệ Độ (6).

4. Nam Bắc triều:

Nước Tàu phân chia Nam, Bắc triều
Giao Châu đưa đẩy thuộc Nam triều (7)
Năm kỉ mùi nhà Tống mất ngôi (8)
Tề kế nghiệp, nhà Lương lại cướp (9)
Cuộc hỗn lọan triền miên tiếp diễn
Quan Giao Châu tiện dịp tranh giành
Nhấn dân lành xuống tận vực sâu…
Năm tân dậu, Long Biên đổi chủ (10)
Ai là người có đủ tài năng
Kinh bang tế thế tặng muôn đời?
Hẳn truyền lời đấy là Lý Bôn (11)
Ông xưng đế đặt quốc -Vạn Xuân.
CHƯƠNG IV: NHÀ TIỀN LÝ

Năm ất dậu, quân Lương sang đánh (1)
Xông trận tiền- vua lánh Gia Ninh (2)
Làm thế dựa trường chinh kháng giặc.
Lương vây đặt – chạy về Tân Xương (3)
Bị rượt đuổi thêm đương thế mỏng
Bỏ thành trì lên động Khuất Liêu (4)
Tìm kế sách, chiêu binh hai vạn
Non năm sau mạnh dạng tấn công…
Quân ô hợp đánh không thể thắng…
Giao binh quyền cho Tả Tướng quân
Triệu Quang Phục- phiên luân chống giữ (5).
Ông trở về ẩn động Khuất Liêu.

Triệu Quang Phục khó tiêu diệt giặc
Bèn lui nhanh – Dạ Trạch đầm lầy
Địa thế hiểm cỏ dầy lớp lớp
Ngày ẩn náo, đêm chớp thời cơ
Đánh úp giặc: đốn cờ, đọat giáo
Cướp lương thực, dưỡng lực, nuôi sĩ…
Khuấy nước chọc trời bền bỉ luôn.
Quân Lương đánh mãi chẳng nên trò
Nhân dân reo hò- Dạ Trạch Vương!!!

Năm mậu thìn, Khuất Liêu mất chủ (6)
Triệu Quang Phục hội đủ đức tài
Xưng Việt Vương tại Đầm Dạ Trạch
Xuất binh thần vạch lấy Long Biên.

Năm đinh sửu Phật Tử tranh quyền (7)…
Quân sự bất thành chuyển ngọai giao…
Nghĩ tình xưa… chia trao phần đất
Bãi Quân Thần- giới hạn phân đôi
Gã con gái tỏ tình hòa hiếu…
Nhưng Phật Tử chẳng níu thâm tình
Năm tân mão thình lình đánh úp (8)…
Sông Đại Nha giữ giúp thanh danh
Dân làng ấy cãm đức lập đền(9)
Triệu Việt Vương- vang rền sông núi!

Lý Phật Tử ung dung xưng đế (10)
Đóng Phong Châu vạch kế lâu dài(11)
Lý Đại Quyền cho giữ Long Biên
Còn Ô Diên trao Lý Phổ Đỉnh.

Năm nhâm tuất, nhà Tùy sang đánh (12)
Lý Phật Tử vội lánh xin hàng
Càng về sau Giao Châu lệ thuộc
Ba trăm ba mươi sáu năm tròn.


CHƯƠNG V: BẮC THUỘC LẦN 3

1. Nhà Tùy.
2. Nhà Đường:

Năm kỉ mão thuộc đường thống trị (1)
Đất Giao Châu cũng bị phân chia:
Mười hai châu, năm mươi chín huyện(2)
Cải đổi- An Nam đô hộ phủ
Tục từ đó gọi là An Nam.
Đời sống chẳng kham dân tình khổ
Bởi nội bang lật đổ tranh quyền
Bởi ngoại bang triền miên lấn chiếm.

a- Mai Hắc Đế:

Năm nhâm tuất, thuộc miền Châu Hoan(3)
Mai Thúc Loan- hưng binh khởi nghĩa
Da đen sì, sức khỏe vô biên
Chán giặc giã triền miên khổ ải
Mộ tráng sĩ cùng trãi ước mơ…
Chiếm Châu Hoan, xây thành đắp lũy(4)
Tự xưng vua, xả hỉ láng giềng (5)
Ngươi tương truyền vua Mai Hắc Đế.

Kế không lâu quân Đường sang đánh
Hắc Đế thu, ngài lánh dương trần.
Núi Vệ Sơn còn tầng tích cũ (6)
Huyện Nam Đường hiện có đền vua (7)

b- Bố Cái Đại Vương:

Năm đinh vị, giặc bể xua vào (8)
Cướp Giao Châu vây chặc phủ thành…
Trương Bá Nghi cùng Cao Chính Bình (9)
Xuất tinh binh cả bọn lui về.
Xây La Thành dễ bề chống giữ (10)
Kể từ đất giặc dử hết vào.

Năm tân vị, bởi Cao Chính Bình(11)
Bắt nhân dân gồng mình cống nạp…
Lòng oán hận trồi đạp non xanh
Tại Đường Lâm -Phùng Hưng nổi trận (12)
Chiếm giữ Thành- hả giận Rồng Tiên.
Cao Chính Bình hóa điên mà chết.
Rồi Phùng Hưng cũng hết nợ đời.
Dân ái mộ lập đền cúng bái
Tôn Phùng Hưng- Bố Cái Đại Vương.
Lập Phùng An noi gương kế thừa…
Nhưng sức yếu mới vừa giao đấu
Vội xin hàng- thật xấu tiên vương(!)

Nước Hoàn Lương hằng năm khuấy nhiễu (13)
Chiếm Châu Hoan, Châu Ái trị vì.
Niên mậu tý, quân Đường xâm lấn
Vua Hoàn Lương tạm lánh phía nam (14)
Đổi quốc hiệu gọi ra Chiêm Thành.

Cuối đời Đường quan trường tham nhũng
Cũng lợi danh…ức hiếp dân đen
Như Lý Trác men chợ Máng, Mường
Mua trâu, ngựa khinh thường hách dịch…(15)
Giết Tù trưởng Máng- Đỗ Tồn Thành.
Dân xứ ấy xúi người Nam Chiếu
Mang quân sang cướp phá Giao Châu…
Mười năm trời, ngậm sầu nuốt thảm!

Năm bính thìn Giao Châu gặp nạn (16)
Thủ phạm định dạng quân Nam Chiếu (17)
May nhờ Nguyên Dụ đánh đuổi đi (18).
Năm mậu dần khắc ghi Vương Thức (19)
Người mưu lược đức tài hội đủ
Trị lê dân khuông phép rõ ràng
Giặc ngòai biên chẳng dám bừa càn(20)
Mọi dân làng an cư lạc nghiệp.

Năm canh thìn, Vương Thức triệu về (21)
Sai Lý Hộ sang làm đô hộ-
Lòng ích kỷ lồ lộ ác tâm
Giết Tù trưởng là Đỗ Thủ Thừng
Dân bản Mường hừng hực huyết sôi
Dụ Nam Chiếu sang lôi cẩu tặc
Vây thành trì kẻ giặc trốn chui.
Quân Nam Chiếu mừng vui chiến thắng…
Tướng Vương Khoan mang quân tiếp cứu
Chiếm lại thành- Nam Chiếu rút lui.

Năm nhâm ngọ đánh vùi Giao Châu (22)
Thế lún sâu, Đường sai Thái Tập
Lập sách lược- ba vạn băng ngàn
Quân Nam Chiều vượt đàng về nước.

Niên quí mùi thêm bước tiến công (23)
Năm vạn quân khó mong bảo toàn
Thái Tập bí chỉ còn tự tử
Tướng dưới quyền là Nguyên Duy Đức
Gắng sức mình đem bốn trăm binh
Ra bờ sông- tâm linh bấm loạn:
Chẳng thuyền bè biết chọn thế chi?
Đành khuyên sĩ cùng nhau giết giặc:
“Mở đường máu hơn là ngạt nước
Bước đường cùng đành phải liều thân.”
Cả quân sĩ đồng tâm nhất quyết
Hai ngàn người bị giết phơi thây.
Nhưng đêm xuống bị vây hết thảy
Xác đầy đàng kinh hãi khôn nguôi!!!
Quân Nam Chiếu mừng vui thắng lợi
Tiến vào thành giết hại muôn dân.
Dương Tư Tấn được nâng Thống lĩnh
Quân- hai mươi ngàn- tỉnh như mơ(!)
Đoàn Tù Thiên thăng Tiết độ sứ
Giữ Giao Châu chứ chẳng cho về.

Năm giáp thân, Cao Biền chinh phạt (24)
Tài thao lược thêm giỏi văn chương
Đặng lòng dân yêu thương mến phục.
Năm ất dậu cùng Lý Duy Chu (25)
Đóng Hải Môn mưu ngày tiến binh…
Năm ngàn quân- Cao Biền ra trước.

Lý Duy Chu thí nước cờ đi
Chẳng tiếp ứng ngồi lì một chỗ
Mượn việc quân- lật đổ Cao Biền
Lòng ích kỉ gắn liền mưu sát
Hại tướng tài- giẫm nát thanh danh.

Trước tình thế Biền đành cất mẻ
Tại Phong Châu bao kẻ gặt mùa (26)
Cướp lương thực, đuổi hùa giết lọan
Nuôi quan binh đợi chọn thời cơ.

Non năm sau bất ngờ được cứu
Bảy ngàn quân- Trọng Lễ sang liền
Nhân dịp ấy Cao Biền tấn binh
Được trận lớn- phát tin chiến thắng
Đến Hải Môn Duy Chu giữ lại…

Vua đương triều bức hại người ngay
Triệu Cao Biền trói tay chịu tội.
Vương Án Quyền tiến vội thế thay.
Ngay khi ấy La Thành vây hảm
Không lâu sau bảo đảm thu thành.
Hiểu rành rành lòng lang dạ sói
Cho thân tín bẫm báo sự tình:
Việc quân cơ tự mình lo liệu…

Hiểu nguồn cơn Cao Biền thăng trật
Sang Giao Châu đánh bật quân thù
Giết Tù Thiên và người hướng đạo
Chiếm La Thành ủy lạo chúng dân.
Động máng, thổ ân cần quy thuận
Đất Giao Châu chẳng luận về Đường.

An Nam thân thương nên Tỉnh Hải ( 27)
Biệt đãi Cao Biền- Tiết độ sứ.
Thiên chức anh tài trãi non sông:
Lập đồn ải chống ngăn giặc giã,
Trị lê dân trên cả nhân hòa…
Được kính yêu gọi là Cao Vương.
Thành Đại La bên dòng Tô Lịch
Được chỉnh trang xây đắp vững vàng…
Phá gềnh thác các sông trắc trở
Để thuyền bè chuyên chở thuận yên.

Năm ất tỵ Cao Biền dời chỗ (28)
Thay Cao Tầm- chẳng trổ hoa xuân(29)
Bởi thế sự dần dần chuyển đổi
Do nước Tàu loạn lạc nổi lên
Kéo Giao Châu chẳng đặng yên lành
Tiết độ sứ sẳn dành họ Khúc (30)
Đấy thời lúc vào năm bính thìn(31)
Được gia phong Đồng Bình Chương Sự.

Năm đinh mão Đường tự mất ngôi(32).
Khúc Thừa Dụ bề tôi cũng thác
Trao binh quyền các con – Khúc Hạo.
Ngài tiếp bước thông thạo tình hình
Lập lộ, phủ nhận nhìn sáng suốt
Đặt quan lại, sửa sang việc thuế…
Kế sai con là Khúc Thừa Mỹ
Lập phái đoàn sang xứ Quãng Châu:
Ngòai thông hiếu, trong dò hư thực…

Năm đinh sửu Khúc Hạo qui tiên (33)
Khúc Thừa Mỹ kế thừa sự nghiệp
Thuận nhà Lương bất giao thiệp Hán triều
Năm quí tỵ, Hán liều đánh sang (34)
Bắt Thừa Mỹ xóa tan hiềm tị
Sai người qua giữ, trị Giao Châu.

Năm đinh tỵ,thuộc tướng Khúc Hạo(35)
Thừa đức tài thông thạo binh thư
Mộ tráng sĩ đánh nhừ tướng Hán.
Xưng Tiết độ sứ- đáng anh tài!
Tên gọi thường ngày- Dương Diên Nghệ(36)
Sáu năm liền chẳng nệ chăn dân…
Kiều Công Tiện bất nhân vô tính
Lựa thời cơ- quyền bính cướp đi
Giết họ Dương đoạt giàng kế vị…
Được tin Chúa bị người hảm hại
Tướng Ngô Quyền lại là con rễ
Cất binh phạt chẳng kể đêm ngày…

Kiều Công Tiện van nài vua Hán (37)
Đưa quân sang che chắn cho mình…
Hán nghe qua thuận tình cứu giúp
Thoả xâm lăng ẩn núp bấy lâu
Sai Hoằng Tháo dấn sâu đất nước
Rồi tự mình cất bước theo sau.

Kẻ phản Chúa vùi sâu đất trời
Đền tội lỗi- muôn đời nguyền rủa
Dưới làn gươm tua tủa Ngô Quyền.
Quân Hoằng Tháo đến triền non nước
Nghe Công Tiện bị tước mạng rồi
Thoáng bồi hồi hoá chuyển thành vui (!)
Hét quân sĩ đánh vùi tốc chiến
Dàn hàng ngang thẳng tiến Bạch Đằng.

Chúng chẳng ngờ chịt chằng cọc nhọn
Luỹ chông hào cắm trọn bãi sông.
Nước triều xuống- thuyền tông bãi cọc…
Binh Ngô Quyền xồng xộc tấn công-
Thuyền lủng đáy nước sông tràn ngập
Lớp bị chìm, lớp gặp hoả công
Thêm mưa tên giông bão dập dồn
Cờ trống dậy gọi hồn non nước!!!

Gần nửa quân chậm bước – sống còn
Chạy trối chết sức mòn, lực kiệt
Gặp đại quân báo việc đau buồn-
Hoằng Tháo chết giữa nguồn sóng nước.

Xót xa thay! Vua Hán khóc oà
Rút quân về chẳng mò qua nữa.

Thật kính thay, con người trung nghĩa
Trong giết nghịch báo thù cho chủ
Ngoài phá địch giữ vững non sông
Gỡ xiềng gông nô lệ thiên thu
Đinh, Lý, Trần, Lê dựng nền tự chủ
Cõi trời Nam hội đủ anh tài!!!

Thảo luận cho bài thơ: PHẦN II : BẮC THUỘC THỜI ĐẠI - Sĩ Đoan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *