PHẦN III : THỜI ĐẠI TỰ CHỦ

(Sĩ Đoan)

PHẦN III : THỜI ĐẠI TỰ CHỦ là bài thơ của tác giả thuộc thể loại . Mời các bạn cùng đọc và thảo luận.

A.THỜI KÌ THỐNG NHẤT
CHƯƠNG I: NHÀ NGÔ ( 939-965)

Năm đinh hợi Ngô Quyền xưng Vương (1)
Đóng Cổ Loa, chỉnh trang việc nước
Chế triều nghi, định tước quan sai…
Dựng nghiệp bá lâu dài muôn thuở!
Khắp non sông bừng nở hoa tươi!
Nhưng tiếc thay! Người hùng mệnh đoản
Sáu năm trời gió thoảng bên tai.
Con lên thay là Ngô Xương Ngập.

Dương Tam Kha vùi dập cướp quyền(2)
Sai quan binh trước tiên tìm giết
Giữ người em theo miết bên mình (3)
Nhận con nuôi thêm tình thắc chặc (!)

Năm canh tuất, Thái Bình dấy lọan
Dương Tam Kha quyết chọn Xương Văn,
Dương Cát Lợi cùng Đỗ cảnh Thạc
Đưa quân đánh địa hạt Thái Bình.
Đến Từ Liêm- Văn Trình hai tướng(…)
Đem quân về bắt nướng Tam Kha.
Tình máu mủ- đành tha khỏi chết
Giáng Tam Kha, lột hết chức quyền(5)
Xưng Nam Tấn Vương, rước anh về
Cùng làm vua đề huề sum hợp (6).
Thiên Sách Vương muốn đợp binh quyền
Nhưng mệnh đổ vào năm bính thìn (7).

Thế lực Ngô tình hình mỗi kém
Giặc nổi lên giết chém mọi miền…
Nam Tấn Vương xuất liền mấy trận
Đến Thái Bình- nuốt hận ra đi (8).

Con Thiên Sách trị vì thiên hạ
Nhưng nước nhà loạn xạ Sứ Quân (9)
Gây nội chiến trầm luân chẳng dứt
Hai mươi năm- đau nhức khôn nguôi!!!

CHƯƠNG II: NHÀ ĐINH ( 968-980)

Đinh Bộ Lĩnh ngược xuôi chinh phạt (1)
Thu giang san- thành đạt ước mơ (2)
Năm mậu thìn lên ngôi Hoàng đế (3)
Thế thay quốc hiệu- Đại Cồ Việt;
Duyệt, Kinh đô tọa ngự Hoa Lư;
Dựng cung điện, phân chế triều nghi;
Định phẩm hàm chi li văn, võ;
Phong công hầu rạng tỏ bá quan
Như Nguyễn Bặc mang Định Quốc Vương,
Ông Lê Hoàn- Thập Đạo Tướng quân,
Còn Đinh Liễn ưng Nam Việt Vương.
Năm canh ngọ- niên hiệu Thái Bình (4)
Ngôi Hoàng Hậu hình thành từ đấy;
Phái sứ sang thông hiếu Tống triều (5).

Niên mậu thìn đưa nhiều cống phẩm
Nam Việt Vương đảm trách vụ này.
Được vua Tống mến tài, tọai ý
Sai sứ sang dùng lý ôn hòa
Phong Tiên Hoàn Giao Chỉ Quận Vương,
Đinh Liễn- Tỉnh Hải Quân Tiết độ sứ.

Ngài chăn dân, giữ lễ cống triều,
Đặt phép nước ra điều luật lệ
Trị ác gian bảo vệ sơn hà
Như vạc dầu và nuôi hổ báo…
Vỗ yên dân hết náo lọan xà.
Việc binh nhung phân chia mười đạo (7).

Bỏ trưởng, lập ấu- lọan trong nhà (8)
Nam Việt Vương tỏ ra tức giận
Xúi tay chân trút hận- Hạng Lang (9)
Hòng chiếm đọat ngai vàng Thái Tử.

Năm kỉ mão Đỡ Thích làm liều (10)
Thấy Tiên Hoàng uống nhiều rượu say
Nằm trong cung sãi dài ra ngủ
Liền giết vua chưa đủ- Việt Vương.

Cả đình thần khóc thương- uất hận!!!
Tìm Đỗ Thích trút giận nguồn cơn…
Tôn Vệ Vương Đinh Tuệ kế thừa (11)
Tuổi lên sáu- nô đùa yêu thích
Nên chính quyền nằm khít Lê Hoàn
Thêm Thái Hậu ngày càng tư thông.
Bọn đại thần mắt trông chán nản
Bèn cử binh- di tản Lê Hoàn
Nhưng bất tài họa mang cả thảy!
Bên Tống triều bỗng nảy xâm lăng
Hội đại binh ở gần biên giới…

Tin quân thù sắp xới non sông
Cử Cự Lượng cầm binh chống giữ.
Trước điện rồng quân sĩ reo to:
Tôn Lê Hoàn chăm lo việc nước
Lập làm vua mới bước ra đi…
Dương Thái Hậu khắc ghi nguyện ước
Khoát lông bào- tự tước quyền con! (12)

Thập Đạo Tướng Quân còn quyết định:
Giáng Đinh Tuệ xuống làm Vệ Vương.
Khắp nhân gian vừa thương vừa tiếc
Biết làm sao gọi là Phế đế.

CHƯƠNG III: NHÀ TIỀN LÊ (980-1009)
Lê Hoàn lên ngôi -hiệu Đại Hành
Lấy niên hiệu rành rành Thiên Phúc(1)
Thúc sứ sang- dối thư Đinh Tuệ
Xin thụ phong hòng chậm trễ việc binh.
Tống không tin trách vua Đại Hành:
Sao xưng đế lấn giành chức vị?
Nhà họ Đinh chuyên trị ba đời!
Trách nhiều lời- Đinh Tuệ – Thống soái,
Còn Lê Hòan đoái phận phó thôi.
Nhược bằng Đinh Tuệ tuổi chưa cao
Đưa mẹ con – mau mau chầu Tống,
Rồi thụ phong bao đấng trung thần(!)

Biết âm mưu dần dần thôn tín
Ngày mỗi ngày cho lính dự phòng…
Trong niên tân tỵ- quân Tống tràn(2)
Lục quân theo đàng qua Lạng Sơn (3)
Thủy quân ít hơn tiến Bạch Đằng…

Vua Đại Hành cho rằng giặc mạnh
Bèn lui nhanh chờ đợi phản hồi.
Hầu Nhân Bảo trườn trồi- Chi Lăng (4)
Đi đến đâu hung hăng đến đó.
Vua giả vờ chịu bó tay hàng
Dụ Nhân Bảo lọt đàng hiểm chém (5)
Rồi đuổi giết lém đém quá nửa
Bắt lần lửa hai tướng Tống triều.
Bọn Lưu Trừng thấy điều thảm bại (6)
Vội lui binh rút chạy trở về.

Tài thắng trận- vẹn bề non nước!
Đức hiếu sinh – bại tướng phóng sanh,
Lòng nhân từ – thương dân con trẻ,
Thuận cùng Tống theo lễ cống triều.

Vua nhà Tống hết điều chọn lựa
Phong Đại Hành mái tựa che dân-
Tiết độ sứ- xả thân vì nghĩa!!!
Năm quí tỵ, sách phong Quận Vương (7).
Năm đinh dậu, phong Nam Bình Vương (8).

Khi phụng chiếu vưa thường không lạy
Bởi hào hùng trỗi dậy uy nghi
Giữ thanh danh một khi vương đế!!!
Tống biết thế vẫn phải làm ngơ.

Phá quân Tống khép hờ mặt Bắc
Đem quân về đánh bắt vua Chiêm (9)
Chiếm Kinh Thành- thu người, đọat của
Phạt vua Chiêm dám bủa xứ Ngài.
Rồi từ đó dài dài cống ta.

Vua Đại Hành vạch ra luật lệ…
Luyện quan binh bảo vệ sơn hà,
Bình các động gần xa dấy loạn,
Đánh dẹp yên cái bọn nghịch thần…
Nên thuở ấy lẫy lừng thanh thế
Vang núi sông bậc đế anh hùng!!!
Năm ất tị vô cùng thương tiếc (10)
Vua Đại Hành về cõi Niết bàn
Truyền ngôi báu cho chàng Long Việt.
Các hoàng tử muốn triệt giành ngôi
Bảy tháng trời, ôi thôi đẫm máu!
Ngồi ngai vàng chưa ráo mồ hôi
Bị Long Đỉnh tranh ngôi giết chết(11)
Một con người mất hết tính người
So tích xưa ngang đời Trụ Kiệt(12)
Anh chung dòng dám diệt chi ai!
Bọn tù phạm- chặc tay, đốt sống
Kẻ nào chống- bỏ sọt nhấn sông
Hoặc leo cây- đốn hông gãy ngã
Mượn đầu Sư- sóc mía- hả buồn!
Tìm vui thích trước luồng huyết đỏ
Chơi sa đọa, ngự triều nằm đó
Ai muốn tâu cần có thằng hề
Bẫm khôi hài vua mê tít mắt(!)
Một ông vua quá quắc nước nhà
Nên thành tục gọi ra Ngọa Triều(!)

Năm kỉ dậu, bao điều sẽ đến?(13)
Lonh Đỉnh mất ai mến, ai thương?
Con còn bé- ai vương triều đại?
Tôn Công Uẩn- sáng khai sơn hà!(14)
CHƯƠNG IV: NHÀ LÝ (1010-1225)
1. Lý Thái Tổ (1010-1028)

Lên ngôi đế hiệu là Thế Tổ
Dời Kinh đô ra chỗ La Thành(1)
Lấy cớ thấy Rồng đổi Thăng Long
Cải Hoa Lư làm Trường An Phủ
Và Cổ Pháp làm Thiên Đức Phủ
Xuất tiền kho xây đủ chùa chiền…
Năm mậu ngọ sai liền bá quan (2)
Nguyễn Đạo Thành, Phạm Hạc… sang Tàu
Thỉnh Kinh Tam Tạng đưa vào Đại Hưng (3)
Nhận cầu phong- Giao Chỉ Quận Vương.
Thời gian sau phong Nam Bình Vương.
Nước láng giềng Chiêm Thành, Chân Lạp
Giữ phận mình cống nạp luân phiên.
Việc giao bang bình yên suông sẻ
Tuy trong nước lẻ tẻ nổi lên (4)
Nhưng dập tắt bởi lệnh oai hùng!!!

Các hoàng tử cùng phong tước vương
Giỏi nghề binh bởi thường ra trận;
Bậc công chúa trưng thu các thuế…
Đổi phép nước- Hai mươi bốn lộ…
Gọi châu Hoan, châu Ái là trại,
Sáu hạng thuế chẳng ngại đưa ra (5)…
Quốc thịnh, dân lành hát ngân nga!!!

Mười chín năm trị vì thiên hạ
Vua băng hà lúc vừa năm lăm
Chưa tống táng- nội loạn trong nhà
Các hoàng tử tâm xà, cẩu sực
Lo vây thành- giành giực ngôi vua.
Binh Thái Tử nhất quyết được thua
Vừa đối trận mắng bừa- Đức Vương:
Bọn các ngươi khinh thường Tự Quân
Nhòm ngôi cao, bất tuân phép nước,
Trên quên tiên đế, dưới trái phận tôi…
Nhát gươm này xin dâng để nhớ!
Chém Võ Đức Vương chớ để lâu
Tại trận tiền đầu rơi máu đổ.
Các thân Vương tìm chỗ bôn đào!

2. Lý Thái Tông (1028-1054)

Hết chông hào Thái Tử lên ngôi (1)
Dực Thánh, Đông Chinh- bề tôi chịu tội.
Nghĩ cốt nhục bèn vội tha cho
Phục chức cũ- chăm lo phận sự.
Vì nghịch ấy, Thái Tông lập thệ:
Cứ hằng năm tại đền Đồng Cổ (2)
Bách quan hành lễ đọc lời thề-
Làm con phải hiếu, tôi phải trung,
Bất hiếu trung- quỉ thần bắt tội;
Quan trốn không thề dội đòn roi! (3).

Vua Thái Tông tinh thông võ nghệ
Tài thao lược trí tuệ hơn người.
Giao binh, dân cho người châu mục (4)
Mạn thượng du- Tù trưởng lĩnh quản.
Quyền lực to thường hay nghịch phản
Thêm lâng bang khuấy nhiễu thường niên…
Vua Thái Tông triền miên đánh dẹp-
Năm mậu tý, Tồn Phúc mưu phản (5),
Năm kỷ mão dập đảng giặc Nùng (6),
Bắt giết cha cùng con- Trí Thông.

Năm tân tỵ- Cao mong phục lại(7)
Lấy Đảng Do lập Đại Lịch quốc.
Vua Thái Tông đốc xuất bắt về.
Mối thương cảm não nề thuở trước
bèn tha, phong tước Quãng Vương Mục.
Ít lâu sau, sách phong Thái Bảo.

Năm mậu tý- Trí Cao nghịch phản (8)
Xin nước Tàu cho đảng nhập bang…
Vua nhà Tống trách đàng nghịch tặc
Nhận nhau về hục hặc lòng dân.
Cao tức giận đánh lấy Ung Châu
Say men trận đánh đâu thắng đó
Tám châu lần lược bó tay hàng!!!.

Vua, tôi Tống hoang mang cực độ
Cử binh trời chẳng lộ sắc quang(!)
Ý mượn Lý đánh sang cứu giúp…
Soái- Địch Thanh ra sức can ngăn…
Sai Dư Tĩnh gia tăng Tôn Miện
Dẹp giặc ngay- thể diện Tống triều!

Tướng thất tài nhận nhiều thảm bại.

Đang lo ngại… Trí Cao dâng biểu
Xin hai Châu theo kiểu đứng đầu (10)
Tống định ưng, Thanh tâu ngăn cản
Xin đưa quân diệt đảng họ Nùng.
Soái Địch Thanh chẳng ngừng bước tiến
Họp binh triều- diễn biến lặng yên(11)
Ai trái lệnh- án tuyên tội tử!
Ông muốn nhử giặc sinh cao ngạo.

Tướng Trần Thự mạnh bạo ra quân
Thua xiển niển tay chân rời rã
Bị Địch Thanh chém ngã trước tiên.
Truyền ba quân – án binh bất động!

Nùng Trí Cao ngỡ mộng sắp thành
Ắt sẳn dành như biểu đã tâu(!)
Bèn nghỉ ngơi buông lơi phòng bị
Chờ danh vị đứng đầu đôi châu(!)

Cửa Côn Lôn, bổng đâu Tống tràn (12)
Hoàng Mật Sư bỏ thây chiến trận…
Cao nuốt hận trốn tận Đại lý (13)
Bị chém đầu- nhụt chí tàn quân.

Năm giáp thân, Thái Tông ngự giá (14)
Đánh Chiêm Thành- tội phá ngư dân (15)
Quân địch bại, ngài thân thúc trận
Bắt voi, người- hả giận nguồn cơn!!!

Tướng Gia Gi còn hơn thú dữ
Chém Sạ Đẩu- thế thủ- qui hàng (16).
Lý thắng trận muôn đàng chém giết
Thây nên đồi, huyết đổ nên sông!!!…
Động nhân tâm- Thái Tông ngăn chặn:
Cấm giết người- muốn đặng bình yên!
Đến Phật Thệ bắt phi Mỵ Ê
yêu tiếc hương, đê mê cõi lòng(!)…
Khúc khải hoàn về sông Lý Nhân
Đòi Vương phi một thân sang hầu(!)

Giữ tiết trinh, phun châu nhả ngọc
Hoài cố nhân suốt dọc bắc nam
Thân cô lẻ chẳng ham sống nữa
Mượn dòng sông gội rữa tình nhà.
Tròn khí tiết quả là đáng kính!
Phủ Lý Nhân hiện đính đền thờ.

Năm ngàn người bắt sau chiến trận
Ban ruộng đất, lập ấp phố phường…
Vua Thái Tông vẫn thường chiếu cố
Nếu bão tố hay tòng đánh giặc
Giảm sưu thuế đặc cách đôi năm.
Định hình phạt yên dân, lợi nước
Trừ thập ác đành tước phạt tiền (17).
Đổi niên hiệu ra liền Minh Đạo (18).

Năm quí mùi mạnh bạo hạ chiếu (19)
Cấm nhân gian mua bán hoàng nam (20)
Đặt nhà trạm chạy giấy công văn,
Định hậu cung giai nhân vừa đủ
Từ Hậu, Phi, Ngự nữ rõ ràng (21)…
Năm giáp ngọ nhẹ nhàng qui tiên (22)
Tình thiêng liêng tràn ngập chúng sinh
Rúng tâm linh khóc thương vô hạn…
Tiếc đời ngài- vận mạng mỏnh manh
Hai mươi xuân đương nhành hoa nở!!!

Thảo luận cho bài thơ: PHẦN III : THỜI ĐẠI TỰ CHỦ - Sĩ Đoan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *