Tam lại

(Đổ Phủ)

Tam lại là bài thơ của tác giả thuộc thể loại . Mời các bạn cùng đọc và thảo luận.

Thạch Hào lại
Mộ đầu Thạch Hào thôn,
Hữu lại dạ tróc nhân.
Lão ông du tường tẩu,
Lão phụ xuất khan môn.
Lại hô nhất hà nộ,
Phụ đề nhất hà khổ!
Thính phụ tiền trí từ:
“Tam nam Nghiệp Thành thú
Nhất nam phụ thư chí
Nhị nam tân chiến tử.
Tồn giả thả thâu sinh,
Tử giả trường dĩ hỹ!
Thất trung cánh vô nhân,
Duy hữu nhũ hạ tôn.
Hữu tôn mẫu vị khứ,
Xuất nhập vô hoàn quần.
Lão ẩu lực tuy suy,
Thỉnh tòng lại dạ quy.
Cấp ứng Hà Dương dịch,
Do đắc bị thần xuy”.
Dạ cửu ngữ thanh tuyệt,
Như văn khốc u yết.
Thiên minh đăng tiền đồ,
Độc dữ lão ông biệt.
Đồng Quan lại
Sĩ tốt hà thảo thảo?
Trúc thành Đồng Quan dạo
Đại thành thiết bất như
Tiểu thành vạn trượng dư
Tá vấn Đồng Quan lại
Tu quan hoàn bị Hồ
Yêu ngã há mã hành
Vị ngã chỉ sơn ngu
Liên vân liệt chiến cách
Phi điểu bất năng du
Hồ lai đãn tự thủ
Khởi phục ưu Tây Đô
Trượng nhân thị yếu xứ
Chính hiệp dung đan xa
Gian nan phấn trường kích
Vạn cổ dụng nhất phu
Ai tai Đào Lâm chiến
Bách vạn hóa vi ngư
Thỉnh phúc phòng quan tướng
Thận vật học Kha Thư!
Tân An lại
Khách hành Tân An đạo
Huyện hô ao điểm binh
Tá vấn Tân An lại
Huyện tiểu cánh vô đinh
Phủ thiếp tạc dạ há
Thứ tuyển trung nam hành
Trung nam tuyệt đoản tiểu
Hà dĩ thủ vương thành ?
Phì nam hữu mẫu tống
Sấu nam độc linh bình
Bạch thủy mộ đông lưu
Thanh sơn do khốc thanh
Mạc tự sử nhãn khô
Thu nhữ lệ tung hoành
Nhãn khô tức kiến cốt
Thiên địa chung vô tình !
Ngã quân thủ Tương Châu
Nhật tịch vọng kỳ bình
Khởi ý tặc nan liệu
Qui quân tinh tản doanh
Tựu lương cận cố lũy
Luyện tốt y cựu kinh
Quật hào bất đáo thủy
Mục mã dịch diệc khinh
Huống nãi vương sư thuận
Phủ dưỡng thậm phân minh
Tống hành vật khấp huyết
Bộc dịch như phũ huynh !


Dịch Nghĩa
Tên lại ở Đồng Quan
Quân lính bao khó nhọc
Đắp thành trên đường Đồng Quan
Thành lớn , sắt không vững bằng
Thành nhỏ , dài hơn vạn trượng
Ướm hỏi người nha lại ở Đồng Quan
(Rằng) vẫn sửa sang cửa ải để đề phòng giặc Hồ?
(Người nha lạ ) mời ta xuống ngựa cùng đi
Chỉ cho ta xem phía góc núi:
Hàng chiến lũy kéo dài như liền với mây
Chim bay cũng không vượt được
Giặc Hồ dù có đến cũng tự giữ lấy
Không còn phải lo cho Tây Đô nữa
– Ông xem những chỗ hiểm yếu:
Hẹp chỉ vừa một chiếc xe đi
Cung cái kích dài cũng khó khăn
Từ xưa vẫn chỉ dùng một người cũng giữ được
Thương thay! Trận Rừng Đào
Trăm vạn quân đều hóa cá
Xin dặn ông tướng giữ cửa ải:
Coi chừng! Chớ bắt chước Kha Thư!
– Đồng Quan: một cửa ải rất hiểm yếu ngày xưa, tây giáp núi Hoa Sơn , đông giáp Rừng Đào
– Rừng Đào: một địa điểm gần Đồng Quan, nơi Kha Thư Hàn, tướng nhà Đường bị An Lộc Sơn đánh tan, hơn mươi vạn quân chết đuối ở sông Hoàng Hà
Tên lại ở Tân An
Khách qua đường Tân An
Nghe rầm rộ bắt lính
Ướm hỏi viên lại Tân An
-(Rằng ) huyện nhỏ hết cả trai tráng
Đêm qua quan phủ lại hạ trát
Bắt tuyển xuống hạng trung nam
– Trung nam thấp bé quá
Giữ sao nổi thành nhà vua ?
Hạng trai mập mạp có mẹ đi tiễn
Riêng hạng gầy nhàng thất thễu lẽ loi
Chiều rồi , dòng nước bạc vẫn cứ xuôi đông
Tận dãy núi xanh còn vang tiếng khóc
Thôi ! Đừng làm cho mắt mình khô đi nữa
Hãy ngừng những hàng lệ ngổn ngang lại
Mắt khô tức là trơ xương
Trời đất bao giờ cũng dửng dưng lạnh nhạt
Quân ta đã lấy được châu Tương
Sớm chiều những mong yên ổn
Ai ngờ thế giặc khôn lường
Quân rút về các trại tản mát
Muốn tiện lương , phải đóng gần lũy cũ
Để luyện quân lính phải dựa kinh xưa
Đào hào không đào đến nước
Chăn ngựa cũng là việc nhẹ nhàng
Huống chi quân nhà vua là chính nghĩa
An ủi , nuôi dưỡng rất phân minh
Buổi tiễn đưa đừng khóc lóc thảm thiết nữa
Có quan bộc dịch chẳng khác gì cha anh !


Dịch Thơ
Viên lại ở Thạch Hào
Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Quan bắt người nửa đêm.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa nhìn.
Viên lại quát đà dữ!
Bà già van đà khổ!
Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn !
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.
Tuy sức yếu già đây,
Xin theo ngài đêm nay,
Đến Hà Dương còn kịp,
Thổi cơm hầu buổi mai.”
Đêm khuya lời đã tắt,
Dường nghe khóc ấm ức.
Sáng ra chào lên đường,
Chỉ cùng ông lão biệt.
Bản dịch: Khương Hữu Dụng
TÊN LẠI Ở ĐỒNG QUAN
Bao quân lính ngày đêm vất vả
Thành Đồng Quan nay đã đắp nên
Thành to thừa sức vững bền
Thành con muôn trượng tiếp liền trời mây
Hỏi tên lại: thành này vội đắp
Ngự giặc Hồ, việc gấp phải không?
Mời ta xuống ngựa đi cùng
Chỉ ra góc núi, mãi vùng xa xa:
Đó rào chiến thật là kiên cố
Dù chim bay cũng khó vượt qua
Quân Hồ hết lối xông pha
Tây Đô còn cách đường xa sợ gì
Kìa lối hiểm men đi chót vót
Đường hẹp này chỉ lọt một xe
Dáo dài cũng khó giở nghề
Một người chống vạn, quen lề từ xưa
Trận Đào Lâm đánh bừa mang vạ
Hàng triệu quân làm cá sông Hoàng
Nhắn ông tướng giữ cửa Quan:
Coi chừng chớ lại học chàng Kha Thư!
Đoãn Kế Thiện dịch
Tên lại huyện Tân An
Khách qua đường Tân An
Nhộn nhịp nghe điểm binh
Hỏi thăm , thầy thông bảo :
– Huyện nhỏ không còn đinh
Hôm qua trát phủ xuống
Sung số tuyển cho nhanh
Số tuyển thấp bé quá
Giữ sao nổi đô thành ?
Anh béo , mẹ đưa chân
Anh gầy nhìn loanh hoanh
Nước bạc chiều chảy xuôi
Tiếng khóc vang non xanh !
Khóc chi cho hốc mắt ?
Nín đi thôi các anh !
Dẫu cho khóc rũ xương
Trời đất vẫn vô tình
Quân ta lấy Tương châu
Hôm sớm mong thanh bình
Lính chạy , trại tan vỡ
Liệu giặc ,ai người tinh !
Vận lương tới trước trận
Rèn lính ngay miền kinh
Đào hào chưa tới nước
Chăn ngựa việc cũng lành
Nuôi nấng rất phân minh
QUan tướng như mẹ cha
Khóc chi khi tiễn hành ?
Nhượng Tống dịch

Thảo luận cho bài thơ: Tam lại - Đổ Phủ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *