VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca * Phần 1

(Mặc Giang)

VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca * Phần 1 là bài thơ của tác giả thuộc thể loại . Mời các bạn cùng đọc và thảo luận.

Non Nước Việt Nam

Thúy Vinh & Đoàn Yên Linh: diễn ngâm


* DẪN NHẬP *

Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, là Thi Tập có tính sơ lược, tổng quát, đại cương xuyên suốt chiều dài 5000 năm lịch sử dân tộc, từ Hồng Bàng, các quốc tổ Hùng Vương, cho đến thời cận và hiện đại, tức cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, được soạn bằng thi ca, căn cứ theo các tài liệu :


1. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
2. Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn
3. Việt Sử của Nguyễn Văn Bường
4. Các Triều Đại Việt Nam của Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng
5. Tóm tắt Niên biểu Lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức
6. Địa lý Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ – Phạm Đình Tiếu
7. Bản đồ địa lý Việt Nam, theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê năm 1999
Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, được dẫn nhập bài Non Nước Việt Nam, bằng 16 câu thơ biến thể tự do, và tiếp theo 80 câu theo thể lục bát, nói về địa lý Việt Nam, nhưng chỉ liệt kê tên tất cả mọi Tỉnh, Thành của đất nước, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, để tất cả mọi người Việt Nam dù được sinh ra ở bất cứ nơi đâu, xuyên qua mọi không gian, thời gian, nhưng khi nói về nguyên quán, là để nhớ đến vùng đất đầu đời, và nhớ đến toàn cõi Việt Nam.
Sau đó, để có cái nhìn tổng quát và khái lược 5000 năm lịch sử huy hoàng của dân tộc, dọc theo chiều dài mở nước, dựng nước, giữ nước, từ Tổ Tiên, qua các triều đại, cho đến từng thế hệ hôm nay, được diễn theo Thi Sử Hùng Ca, mở lối bằng 14 câu thơ biến thể tự do, và tiếp theo 722 câu theo thể thơ lục bát.
Hình dung bản đồ Việt Nam trước mặt, như chính mình đang đi, đang nhìn, đang thấy khắp Ba Miền, đi từ Bắc vào Nam, từ cao nguyên cho tới đồng bằng, qua sông qua suối qua đèo, băng rừng băng núi băng non, qua mọi Tỉnh, Thành của quê hương đất nước :

“Tôi xin mở bản dư đồ Hình cong chữ S
Ngắm từng Tỉnh, từng Vùng
Của nước Việt dấu yêu
Của giang sơn cẩm tú mỹ miều…
… Mở đầu, Miền Bắc khai nguyên
… Anh lên Miền Ngược, em về Miền Xuôi
Xuôi về Hà Nội mới thôi
Thăng Long hoài cổ, đổi dời Thành Đô
… Sài Gòn chưa vẹn câu thề
Em đi, đi nữa xuôi về Miền Nam
… Em đi, đi nữa em ơi
… Hình cong chữ “S” nơi nơi
Non non nước nước của Người Việt Nam”.

Khi từng miền đất nước, như đã cấu thành cho con người Việt Nam máu đỏ da vàng, cho tình tự yêu thương chạy dài từ thành thị đến thôn trang. Thật vậy, từng nẻo đường quê hương như phảng phất : Kia bóng cờ bay, với “Những lối đi, chạy ngang qua đất đỏ”. Nọ khúc khải hoàn, với “Những lối về, chạy dọc dưới trời xanh”. Và mỗi bước đi như có hồn thiêng khói quyện, hồn sử lung linh, máu lệ đầy vơi nhưng lẫm liệt oai hùng, hy sinh gian khổ nhưng huy hoàng bất khuất. Mỗi chúng ta hãy lần theo từng trang sử qua từng thời kỳ của 5000 năm văn hiến của đất nước Việt Nam, đang được mở ra :
“Tôi xin mở bản đồ đất nước Việt Nam
… Tổ quốc, giang sơn, giòng giống Tiên Rồng”
“Quê hương từ độ khơi dòng
Mở trang Sử Việt oai hùng ngàn năm
Đi từ huyền sử xa xăm
Hồn thiêng sông núi Việt Nam muôn đời
… Em đi trong mộng trong mơ
Năm ngàn năm đã đợi chờ thật lâu…

Và cuối cùng, đi vào kết thúc lịch sử 5000 năm, rồi lại mở ra 5000 năm nữa …
“Nước là nước, nhà là nhà
Nhà là của nước, nước là của sông
Em ơi, con cháu Lạc Hồng
Em ơi, dòng dõi con Rồng cháu Tiên
Quê hương còn đó, Ba Miền
Việt Nam còn đó, núi liền với sông
Trường Sơn có thấu Biển Đông !
Thái Bình có thấu Sông Hồng, Cửu Long !
Đồng Nai đứng đợi cuối dòng
Nước bao nhiêu nữa, cũng nguồn mà ra
VIỆT NAM, NON NƯỚC MỘT NHÀ
NĂM NGÀN NĂM NỮA CŨNG LÀ VIỆT NAM”.

Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, được soạn thảo bằng cách, nhìn vào bản đồ Việt Nam và cuốn Địa lý Việt Nam từ Bắc vào Nam ; đọc, lược, đối chiếu qua 5 bộ sách lịch sử, qua thời gian, qua từng thời kỳ và các triều đại, cảm tác suốt một tuần lễ, tổng cộng 832 câu thơ, gồm 30 câu biến thể tự do, 802 câu theo thể lục bát. Sau đó, tự tác giả đọc lại, sửa, đánh máy, bình chú, cũng xuyên suốt trong vòng một tuần lễ.
Như vậy, suốt hai tuần lễ của tháng 9 năm 2003, Thi Tập VIỆT NAM THI SỬ HÙNG CA, một sản phẩm của con tim, khối óc, tình tự, trí tuệ được thành hình. Thi tập này chưa nhưng sẽ được tác giả tự ấn hành trong nay mai.
Rất mong những bậc cao minh góp ý hoặc mách bảo những sai sót, khiếm khuyết, nhất là về sử, hay tự chính tác giả khi phát hiện được, sẽ sửa chữa, đính chính, trước khi in ấn, hoặc vào những lần tái bản, để Việt Nam Thi Sử Hùng Ca được hoàn thiện hoàn mỹ, không phải của riêng tác giả, mà của tất cả mọi người.
Rất mong, Việt Nam Thi Sử Hùng Ca sẽ được chân thành gởi đến, và như một cống hiến dâng tặng đến tất cả mọi người Việt Nam, qua mọi không gian thời gian, và ao ước mọi người Việt Nam đều mang tình tự quê hương đậm đà, đều có những nỗi niềm khắc khoải nhưng tràn đầy diễm phúc tự hào, qua âm hưởng Việt Nam Thi Sử Hùng Ca 5000 năm dân tộc và Ba Miền nước Việt dấu yêu.
Ngày 06 tháng 8 năm 2005
Trân trọng và cẩn chí
Mặc Giang

**************
Non Nước VIỆT NAM
Quê Hương để giữ gìn, để thương, để nhớ
************
01. Tôi xin mở bản dư đồ hình cong chữ “S”
Ngắm từng Tỉnh, từng Vùng
Của nước Việt dấu yêu
04. Của giang sơn cẩm tú mỹ miều
Cho dòng giống Lạc Hồng gìn giữ nâng niu
Tôi xin mở bản dư đồ hình cong chữ “S”
Bắc Nam Trung một dãi nối liền
08. Của quê hương gấm vóc Ba Miền
Để thắm tô Sông Núi Hồn Thiêng
Nối tình dài Con-Cháu-Tổ-Tiên
Tôi xin mở bản dư đồ hình cong chữ “S”
12. Biển rộng sông dài non nước Việt Nam
Đi từ Cà Mau đến Ải Nam Quan
Đi từ rừng cao cho đến đồng sâu
Đi từ bờ đê cho đến ruộng dâu
16. Đất nước yêu thương con cháu da vàng
****
Mở đầu Miền Bắc khai nguyên
Thượng du miền ngược, xuôi miền Trung du
LAI CHÂU kê núi gối đầu
04. LÀO CAI Bản Giốc sương mù HÀ GIANG
LẠNG SƠN cách khoảng CAO BẰNG
QUẢNG NINH ven biển chờ trăng ánh vàng
Vàng lên tựa cửa BẮC GIANG
08. THÁI NGUYÊN, BẮC KẠN, TUYÊN QUANG một nhà
Ô kìa YÊN BÁI, SƠN LA
Anh lên Miền Ngược, em về Miền Xuôi
Xuôi về HÀ NỘI mới thôi
12. Thăng Long hoài cổ, đổi dời thành đô
Năm ngàn năm, dựng cơ đồ
Theo dòng lịch sử điểm tô muôn đời
Em đi, đi nữa em ơi
16. Băng qua PHÚ THỌ lên đồi BẮC NINH
VĨNH YÊN, VĨNH PHÚC xoay mình
Chở che Hà Nội, HÒA BÌNH, HÀ TÂY
Hà Tây còn có SƠN TÂY
20. HÀ ĐÔNG bên đó, bên nầy HẢI DƯƠNG
Đi ra tận cửa HẢI PHÒNG
Trùng dương sóng vỗ HẠ LONG tuyệt vời
HƯNG YÊN một chuyến rong chơi
24. HÀ NAM bén gót, buông lơi THÁI BÌNH
NINH BÌNH, NAM ĐỊNH xinh xinh
Hồng Hà sông nước, Thái Bình nước sông
Em về THANH HÓA hơn không
28. NGHỆ AN, HÀ TĨNH mênh mông núi đồi
Sông Đà, sông Mã dặm soi
Bắt ngang Đồng Hới, mù khơi QUẢNG BÌNH
Còn kia, QUẢNG TRỊ điêu linh !
32. Sông Gianh, Bến Hải vặn mình kêu sương !!!
THỪA THIÊN, Phố Huế, sông Hương
Hội An – Đà Nẵng, dặm trường Quảng Nam
Thương ra QUẢNG NGÃI mới cam
36. Thương vô BÌNH ĐỊNH bao hàm PHÚ YÊN
Thương lên đến tận Cao Nguyên
KON TUM, ĐÁC LẮC giữa miền GIA LAI
Tình xưa lối cũ dấu hài
40. Hoàng Triều Cương Thổ thở dài một phen !
Thu Bồn khói quyện quen quen
Đà Rằng lượn khúc, chưa hoen KHÁNH HÒA
Thùy dương cát trắng phôi pha
44. PHAN RANG, PHAN RÍ xót xa thuở nào !!!
Em đi lòng dạ nao nao
Thời gian đi mãi vẫy chào tháng năm
CAM RANH mây nước xanh lam
48. ĐÀ LẠT mơ mộng Suối Vàng, Cam Ly
Đường lên BÌNH PHƯỚC anh đi !
Em về PHAN THIẾT có chi ngại ngùng ?
VŨNG TÀU, BÀ RỊA một vùng
52. Ra khơi nhớ Bưởi mà rung BIÊN HÒA
BÌNH DƯƠNG cây trái lá hoa
TÂY NINH là tỉnh cuối bờ Trường Sơn
SÀI GÒN nói thiệt nào hơn !
56. Viễn Đông Hòn Ngọc dễ sờn mấy ai ???
Ai về GIA ĐỊNH, ĐỒNG NAI ?
Đừng quên Bến Nghé, mối mai Nhà Bè !
SÀI GÒN chưa vẹn câu thề !!!
60. Em đi đi nữa xuôi về Miền Nam
Kề vai xỏa tóc LONG AN
MỸ THO mấy khúc, TIỀN GIANG mấy bờ
Em đừng vội đến CẦN THƠ
64. Mà quên ĐỒNG THÁP dựng cờ phía Tây
Sông Tiền, sông Hậu là đây
BẾN TRE bên đó, bên này TRÀ VINH
VĨNH LONG in bóng theo hình
68. SÓC TRĂNG cuối ngọn, đầu ghình AN GIANG
Hà Tiên, Rạch Giá, KIÊN GIANG
BẠC LIÊU rẽ bước đôi hàng CÀ MAU
Muốn ra PHÚ QUỐC lên tàu
72. CÔN SƠN mờ tỏa một màu xanh xanh
Việt Nam muôn thuở thanh bình
Việt Nam sông núi đầu ghềnh, biển Đông
Việt Nam còn đó non sông
76. Mẹ Âu, Cha Lạc, con Rồng, cháu Tiên
Việt Nam sông núi Ba Miền
Bắc Nam Trung, quyện an nhiên muôn đời
Hình Cong Chữ “S” nơi nơi
80. Non non nước nước của Người Việt Nam.
*************
VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca
*****
MỞ LỐI
01. Tôi xin mở bản đồ Đất Nước Việt Nam
Đi từ Cà Mau đến Ải Nam Quan
Đi từ Vùng Sâu lên đến Cao Nguyên
04. Đi khắp quê hương, đi khắp mọi miền
Tôi xin mở bản đồ Đất Nước Việt Nam
Đi từ Biển Đông lên tới Trường Sơn
Đi từ làng quê, đi khắp phố phường
08. Đi khắp đất liền, đi khắp non sông
Tôi xin mở bản đồ Đất Nước Việt Nam
Là thịt là da xương máu Tổ Tiên
Là thịt là da xương máu Cha Ông
12. Là thịt là da xương máu cháu con
Truyền trao thế hệ, tô thắm non sông
14. Tổ quốc, giang sơn, dòng giống Tiên Rồng
_________________________________
* Dòng họ Hồng Bàng thay nhau gìn giữ dòng giống Lạc Việt ở Phương Nam. Cho tới đời Vua Kinh Dương Vương, truyền lại Lạc Long Quân hiệu Hùng Hiền Vương và truyền lại đến 16 đời sau, đều mang hiệu Hùng Vương, chỉ khác nhau chữ húy chính giữa, từ Hiền, Quốc, Việt, . . . đến Duệ là vị thứ 17. Từ Kinh Dương Vương đến Hùng Duệ Vương gồm 18 đời, nên gọi là 18 đời Vua Hùng Vương. Quốc hiệu là nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, và kéo dài từ năm 2879 đến năm 258, tức được 2621 năm, trước Dương lịch.
* Vua Đế Minh lấy một nàng tiên rồi sanh ra Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân lấy Âu Cơ, con gái người đất Âu, sinh ra 100 anh chị em. Do đó, Thời sơ khai, nước ta có khi gọi là nước Lạc Việt, có khi gọi Âu-Lạc, là kết hợp người gốc Lạc gốc Âu mà thành. Khi người con trưởng nối ngôi, tức đời Hùng Vương thứ 3, mới đặt quốc
hiệu là Văn Lang. Lạc Long Quân gốc Rồng, Âu Cơ gốc Tiên. Cho nên dân tộc Việt Nam được gọi con cháu Lạc Hồng thuộc dòng giống Rồng Tiên là vậy.

* Hùng Vương khai quốc, bảo quốc, truyền trao tiếp nối cho tới hôm nay. Do đó, nên gọi Quốc Tổ Hùng Vương. Lập đền thờ tưởng nhớ gọi là Đền Hùng. ______________________________
TỪ NGUỒN CỘI đến BẮC THUỘC

Việt Nam độc lập 2768 năm
(Từ câu 1 đến câu 54)
********
Quê hương từ độ khơi dòng
Mở trang Sử Việt oai hùng ngàn năm
Đi từ huyền sử xa xăm
04. Hồn thiêng sông núi Việt Nam muôn đời
Đi từ nguồn cội em ơi !
Lạc Long Quân kết duyên đời Âu Cơ (1)
Năm mươi xuống biển đợi chờ (2)
08. Năm mươi lên núi dựng cờ an bang
Triển khai lập quốc Văn Lang (3)
Người con trai trưởng đăng đàn làm vua
Tựa nương bảo vệ cho vừa
12. Anh em một bọc nắng mưa đỡ đần
Trước sau thứ đệ một vần
Đều mang danh hiệu cao ngần Hùng Vương
Mười tám đời thật phi thường
16. Chung lưng đấu cật lo lường mến thương
Hùng Vương thứ sáu, Bắc phương
Giặc Ân ôm mộng mở đường xâm lăng
Thiên Vương Phù Đổng oai thần
20. Thét roi ngựa sắt, giặc Ân qui hàng (4)
Sóc Sơn biến mất mây ngàn (5)
Mở ra Hội Gióng leo thang mà thờ (6)
Mỵ Nương công chúa huyền mơ (7)
24. Sắc hương cá nước vật vờ chim sa
Hoàng hôn nán đợi chiều tà
Lẻn nhìn nét ngọc trăng ngà soi gương
Hai chàng đều ngỏ đều thương
28. Sơn Tinh nhanh bước, quê hương Ba Vì (8)
Thủy Tinh hận mối tình si (9)
Làm mưa làm gió, đuối thì phải thua
Nắng mưa nhờ đó bốn mùa
32. Nước Nam hưng thịnh thuận hòa bình an
Kéo dài lịch sử Văn Lang
Hăm sáu hai một là ngàn với năm (10)
Hai năm bảy, trước công nguyên
36. Biến thành Âu Lạc lưu truyền
Dương Vương (11)
Cổ Loa xây dựng phi thường (12)
Bao nhiêu thành lũy là phương huy hoàng
Rùa Vàng xuất hiện Hồ Gươm (13)
40. An bang định quốc nỏ thần giương cao
Giặc Tần chạy rớt chiến bào
Quân năm mươi vạn ào ào lá thu (14)
Chuyện tình sử, lệ chưa nhòa
44. Tình đang như mộng Cổ Loa kinh thành (15)
Thương thay hai mái đầu xanh
Mỵ Châu – Trọng Thủy ôm vành trăng soi
Dương Vương ngoảnh lại mà coi
48. Thanh gươm đã toát đầu rơi nghẹn ngào (16)
Hai lẻ bảy, sóng rạc rào (17)
Vỗ tan Âu Lạc vẫy chào châu sa
Ấy là kế sách Triệu Đà
52. Nam Việt danh hiệu kinh qua một thời (18)
Triệu Vương truyền nối năm đời
54. Dù sao đi nữa cũng người nước Nam (19)
__________________________________
(1,2,3) Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh được 100 người con. Khai triển lập quốc Văn Lang. Một nửa cùng Mẹ ở lại quê nhà cùng nhau đùm bọc, một nửa theo Cha cặp theo dòng nước xuống tận biển để khai khẩn tìm kế sinh nhai. Từ 100
anh chị em, lần lần kết duyên với những bộ tộc khác và truyền tiếp giống nòi.

(4,5,6) Nhà Ân (Trung Hoa) xâm lăng VN lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6, nhưng thất bại. Nhờ cậu bé làng Phù Đổng, cỡi ngựa sắt, gươm sắt, nón sắt phi mã như thần, giặc Ân tan nát, qui hàng. Phá xong giặc Ân, về đến Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, lập đền thờ tại Phù Đổng, và tôn Phù Đổng Thiên Vương. Hàng năm, ngày 8-4, làng Gióng (Phù Đổng) mở hội lớn gọi là Hội Gióng, lan xa cả Miền Bắc, đến nay vẫn còn.

(7,8,9) Thời Hùng Vương, các công chúa đều gọi là Mỵ Nương. Hùng Vương thứ 18, công chúa Mỵ Nương đẹp tuyệt trần, Sơn Tinh, Thủy Tinh đều muốn xin làm Phò Mã. Sơn Tinh được chọn, đón Mỵ Nương về Ba Vì.
(10,11) Nước Văn Lang kéo dài 2621 năm thì biến thành nước Âu Lạc, thời An Dương Vương, đóng đô tại Phong Châu, kéo dài 50 năm.

(12) Cổ Loa, một kinh thành tại Phong Châu, đồ sộ, cổ nhất của dân tộc
(13) Tương truyền Thần Kim Quy xuất hiện tại Hồ Gươm (tức Hồ Hoàn Kiếm) mách bảo cho phương cách để xây thành Cổ Loa.
(14) Nhà Tần thống nhất Trung Hoa, xâm lăng VN lần thứ 2, nhưng thất bại.
(15) Tìm hiểu nỏ thần Liên Châu là kế sách chính trị, nhưng không thể phủ nhận chuyện tình sử đẫm lệ giữa Trọng Thủy – Mỵ Châu !
(16) Một câu nói “kẻ thù sau lưng“, An Dương Vương quay lại, không thấy ai, đành rơi lệ chém con gái của mình rồi trầm mình xuống biển.
(17,18,19) Triệu Đà lên ngôi năm 207, sáp nhập Nam Hải, Âu Lạc thành Nam Việt. Từ Hùng Vương đến cuối Nhà Triệu năm 111 trước Dương lịch, VN kéo dài nền độc lập tự trị 2768 năm, sau đó là 1000 năm Bắc thuộc.

____________________________________
VIỆT NAM, THỜI KỲ BẮC THUỘC
Từ năm 111 trước Dương lịch
đến năm 939 sau Dương lịch

***
Cuộc Khởi Nghĩa của
HAI BÀ TRƯNG, BÀ TRIỆU

(Từ câu 55 đến câu 82)
__________
Năm ba số một mới cam
56. Là thời Bắc thuộc ngàn năm oán hờn (1)
Mở đầu, Nhà Hán vẽ, sơn
Chia thành chín quận dễ vờn, dễ sai (2)
Nhâm Diên, Tô Định oằn vai (3)
60. Trưng Trắc, Trưng Nhị cỡi voi diệt thù (4)
Đất Mê Linh đẹp thiên thu
Ba năm hưng khởi oán thù chưa tan
Đoàn quân Mã Viện kéo sang
64. Hai Bà Trưng, mượn Hát Giang trầm mình
Em xin giọt lệ lung linh
Tuổi hai mươi hiến dâng mình nước non
Điểm ghi thật đậm nét son
68. Cho trang Sử Việt huy hoàng mai sau
Vàng ròng há lộn chì thau
Lửa nung mới sáng ửng màu tinh anh
Ra khơi vỗ sóng Cá Kình
72. Chớ làm tôm tép dầm mình dưới thung (5)
Nữ nhi đáng mặt anh hùng
Triệu Trinh mười chín nghĩa chung khởi cờ (6)
Bốn năm tinh luyện binh cơ
76. Xuất chinh Thanh Hóa, Đông Ngô hãi hùng
Đấu tranh oanh liệt vẫy vùng
Năm hai bốn tám, núi Tùng gởi thân (7)
Bà Trưng, Bà Triệu một vần
80. Anh thư Nước Việt quần thần phải kiêng
Ba Bà xưng tụng Ba Miền
82. Sử xanh rực sáng hậu tiền soi chung.
____________________________
(1,2,3) Tể tướng Lữ Gia và vua tôi Nhà Triệu đều bị bắt giết bỡi tướng Lộ Bác Đức, Dương Bộc của Vua Hán Vũ Đế. VN chỉ được gọi Giao Chỉ Bộ, chia ra 9 quận, mà các thái thú như Tô Định vờn, sai như mèo vờn chuột.
(4) 151 năm đầu của 1000 năm Bắc thuộc, mới có cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên vào năm 40 của Hai Bà Trưng, đánh quân Nam Hán ra khỏi VN, lên ngôi xưng Trưng Vương, đóng đô Mê Linh, kéo dài được 3 năm (40-43). Kể cũng lạ ? Càng lạ hơn, mãi đến năm 248, mới có cuộc khởi nghĩa đáng kể thứ 2 của Bà Triệu thời Đông Ngô. Nghĩa là 359 năm đầu Bắc thuộc, chỉ có 2 lần gọi là khởi nghĩa, đều là Bậc Nữ Nhi, tuổi vừa chớm đôi mươi !!!

(5,6,7) Cuộc khởi nghĩa thứ hai được lãnh đạo bỡi cô Triệu Thị Trinh. Mới 19 tuổi. Anh của bà là Quốc Đạt, bảo phận gái 12 bến nước, không lo sớm coi chừng …
Cô Trinh đáp, em phải ra khơi, cỡi Cá Kình, lấp biển Đông, đạp sóng Ngô,… Và thật vậy, Đông Ngô khiếp vía, nhưng vì có nội gian phản bội, không biết đàn ông hay đàn bà ? Bà phải hy sinh tại Núi Tùng, Thanh Hóa năm 23 tuổi. Còn Hai Bà Trưng trầm mình tại Hát Giang, Mê Linh, tuổi còn nhỏ hơn Bà.

_________________________________
Cuộc Khởi Nghĩa của
LÝ NAM ĐẾ – MAI HẮC ĐẾ

(Từ câu 83 đến câu 124)

***
Nhà Ngô suy tính lo lường
84. Nước Nam biến mất, rẽ đường thật sâu
Giao Châu ngăn cách Quảng Châu
Quảng Châu từ đó gồm thâu bên Tàu (1)
Dòng tao loạn, biến thật mau
88. Giao Châu cuốn hút cúi đầu Nhà Lương (2)
Mà dày mà xéo tang thương
Lý Bôn xuất hiện dẹp phường ngoại xâm
Giành độc lập, cứu nước Nam
92. Kinh đô Tô Lịch, Vạn Xuân tô bồi (3)
Năm trăm bốn bốn lên ngôi
Tiền Lý Nam Đế phục hồi dựng xây (4)
Lập chùa Trấn Quốc, Hồ Tây (5)
96. An dân, an quốc, đêm ngày chỉnh trang
Kinh qua sức kiệt lực tàn
Bèn giao danh tướng Triệu Quang lo lường
Lên ngôi hiệu Triệu Việt Vương (6)
100. Hải Hưng-Dạ Trạch tầm phương lâu dài (7)
Lý Phật Tử, quyết một hai
Giành ngôi rồi lại mắc quai Nhà Tùy (8)
Vạn Xuân ngắn ngủi phải suy
104. Tay mang ách vác khốn nguy kéo dài
Nhà Đường đày ải vạn tai
An Nam đô hộ trâu cày lưỡi le (9)
Dương Quí Phi, phận phòng the (10)
108. Nhờ hương sắc nước mà đè mày râu
Vua Đường cùng các chư hầu
Món ngon vật lạ đêm tâu ngày trình
Vì ăn mà khổ dân mình
112. Lệ chi – trái vải, lội sình trèo non (11)
Đất Hà Tĩnh – Mai Thúc Loan
Nâng cao sĩ khí căm hờn thúc quân
Giặc Đường tan rã thoát thân
116. Tung hô vạn tuế muôn dân tôn thờ
Xưng, Mai Hắc Đế huyền cơ
Một năm nung nấu cơ đồ mai sau
Vạn An thành, khóc đêm thâu
120. Một năm còn có gì đâu dặm trường (12)
Nhà Đường cử vạn binh nhung
Vạn An ngập lửa chập chùng máu xương
Thúc Loan yếu thế cùng đường
124. Lui binh, thúc thủ, bỏ xương trong rừng.
_____________________________
(1,2) Nhà Tây Hán nước Việt từ Giao Châu tới Quảng Châu, thời Đông Hán chỉ còn Giao Châu. Khi Ngụy-Thục-Ngô thời tam quốc kết thúc, nước Trung Hoa nhanh chóng loạn lạc thành nhiều nước nhỏ Tấn, Tần, Triệu, Yên, Lương, Hạ,
Hán, Tống, Tề tranh bá đồ vương, thành Nam – Bắc Triều, thay ngôi đổi chủ, thì Giao Châu lần lượt cũng bị chuyển theo, rồi lệ thuộc Nhà Lương, cho tới cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn vào năm 544. Đã thấy Nam nhi xuất hiện !!!
(3,4,5) Lý Bôn người Thái Bình, mồ côi cha mẹ lúc lên 7 tuổi, ở nhờ nhà chú. Sau được Thiền sư chùa Linh Bảo đem về nuôi. Lớn lên kháng chiến giành độc lập, đặt tên nước Vạn Xuân, xây kinh đô tại Sông Tô Lịch (Hà Nội), lên ngôi hoàng đế, mở ra Nhà Tiền Lý khá dài (544-602). Lập Chùa Trấn Quốc (Hồ Tây) để cầu nguyện gia hộ cho nước nhà.

(6,7) Triệu Quang Phục người Hải Hưng, là danh tướng của Vua Lý Nam Đế, đóng quân tại chiến lũy Dạ Trạch, lên ngôi tức Triệu Việt Vương, còn gọi là Dạ Trạch Vương, đến năm 571 thì mất.

(8) Lý Phật Tử tiếp ngôi Triệu Việt Vương, tức Hậu Lý Nam Đế, kéo dài đến năm 602, thì lệ thuộc Nhà Tùy. Lúc bấy giờ, nhà Tùy lớn mạnh, tóm thâu các nước nhỏ, dẹp yên Nam Bắc triều, thống nhất Trung Hoa.
(9) Nhà Tùy chuyển sang Đường, học kinh nghiệm các triều đại trước. Nước ta không những bị xâm thuộc Nhà Đường, mà càng thêm khốn khổ bội phần. Năm 671, Vua Cao Tông nhà Đường đặt tên nước ta là An Nam đô hộ phủ.
(10,11) Dương Quí Phi một ái khanh kiều diễm của thời nhà Đường. Xem những diễn xuất, sách vở, ai không khen là một tuyệt thế giai nhân. Nhưng cũng chính vì Bà, nước ta vì trái lệ chi, mà khổ, mà đày, mà nhục, mà chết.
(12) Đã từng gian khổ trước đó, nên Mai Thúc Loan, tự luyện võ-văn, thúc giục nhân tâm, chờ ngày phục hận, và mùa vải năm 722, thời cơ chín mùi, cùng đoàn dân phu tải vải, một người vì vải bể đầu, một ông gìa sắp bị chẻ đôi, Thúc Loan vùng lên, đánh tan quân áp tải, chiếm cả Tống Bình, đuổi quân Đường về nước, lên ngôi Hoàng Đế. Đặt tên nước Vạn An, xây Vạn An
thành, nhưng rất tiếc, Nhà Đường đang hồi cực thịnh, đem quân báo thù, Thúc Loan phải bỏ thân trong rừng, nước ta mất thêm một cơ hội khôi phục.

_____________________________
Cuộc Khởi Nghĩa của
BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG

(Từ câu 125 đến câu 140)

********
Non sông là sự nghiệp chung
Dấy lên ngọn đuốc Phùng Hưng – Ba Vì
Hai mươi năm, trí dũng phi
128. Khi đánh khi thủ có khi vây thành
Tướng Đường sợ thấu mật xanh
Một tuần bủn rủn phải đành trút hơi (1)
Tướng còn kinh đảm rụng rời
132. Quân quỳ lập cập, van lơi xin hàng
Muôn tâu Bố Cái Đại Vương (2)
Một thời ngang dọc tỏ tường hồn ai
Mai sau con nước còn dài
136. Bạch Đằng linh hiển oai tài giúp Ngô (3)
Mang thân đem vá cơ đồ
Suối vàng đoái tưởng đội mồ báo tin
Chín năm công đức vang rền
140. Đại Vương Bố Cái thênh thênh đất trời.
_________________________
(1,2) Phùng Hưng 20 năm kháng chiến, trận quyết định tại Tống Bình – Hà Nội năm 791, quân Đường thúc thủ, tướng Đường là Cao Chính Bình run sợ mà chết, quân giặc đầu hàng. Phùng Hưng được tôn là Bố Cái Đại Vương. Ở
ngôi và truyền cho con là Phùng An kéo dài 9 năm, thì bị chiếm năm 802.
(3) Tương truyền trận Bạch Đằng, Phùng Hưng hiển linh để giúp Ngô Quyền, làm cho quân Nam Hán khiếp vía, bị chết chìm và tan rã nhanh chóng.
________________________________
Cuộc Khởi Nghĩa của
Họ KHÚC và Họ DƯƠNG

(Từ câu 141 đến câu 158)
********
Chưa tàn giọt lệ đầy vơi
Máu xương chồng chất tiếp đời mai sau
Khúc Thừa Dụ, chẳng bao lâu
144. Người Hải Hưng, hận mối sầu điêu linh (1)
Chiêu quân mãi tướng xuất chinh
Quan quân đô hộ, Tống Bình tan hoang
Đường dài mới biết ngựa boong
148. Chiến bào mấy lớp, sắc mòn xông pha
Khúc Hạo, Khúc Mỹ một nhà
Chín lẻ sáu, chín hăm ba – một thời (2)
Một thời máu lệ đầy vơi
152. Một thời trong cả suốt thời Bắc xâm
Xương chồng, máu đổ từng năm
Từng năm xương máu, tơ tằm lột da
Dương Đình Nghệ, thuộc tướng nhà
156. Khởi thân Thanh Hóa, Đại La công đồn (3)
Kiều Công Tiễn, dạ sói chồn
Cướp ngôi giết chủ, cúi lòn ra chi (4)
***
(1,2) Họ Khúc dấy nghiệp giành nền tự chủ nước ta kéo dài 17 năm (906-923). Lúc bấy giờ, Trung Hoa là thời ngũ đại tranh quyền. Năm 923, Quân Nam Hán xâm chiếm nước ta, bắt gia đình họ Khúc hãm hại.
(3,4) Dương Đình Nghệ là tùy tướng của Khúc Hạo tiếp tục sự nghiệp, đánh thắng ngoại xâm năm 931, độc lập 6 năm thì bị nha tướng là tên Tiễn hãm hại soán đoạt. Quân Giao Châu quyết trừ thì Công Tiễn thần phục Trung Hoa.

_____________________________
NGÔ QUYỀN
CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG
Chấm dứt Ngàn Năm Bắc thuộc

(Từ câu 159 đến câu 188)
********
Trời sanh cũng đất Ba Vì
160. Ngô Quyền lẫm liệt nam nhi oai hùng
Dọc ngang chinh chiến vẫy vùng
Hoàng Thao – Nam Hán ùn ùn kéo sang
Bạch Đằng giang, Bạch Đằng giang
164. Ngàn năm Bắc thuộc âm vang chốn này (1)
Bạch Đằng giang, khói lửa bay
Ba phương bốn hướng ra tay diệt thù
Quân mai phục hiện lù lù
168. Giữa dòng sông, cọc nhọn, vù sáng choang
Chiến thuyền xuyên thủng ngửa nghiêng
Bắc quân ngã gục lòng sông nghẽn dòng
Vua Nam Hán, bật khóc ròng (2)
172. Bạch Đằng dậy sóng rửa lòng thiên thu (3)
Hồn tử sĩ gió vi vu
Vọng vang vang vọng, mịt mù nỉ non
Bạch Đằng đưa nước về non
176. Dân Nam ca khúc khải hoàn thái lai.
Ngàn năm thống trị lâu dài
Kinh bao kháng chiến đến nay mới là
Giành độc lập, thiết triều ca
180. Dựng xây, khai phóng nước nhà Việt Nam
Bạch Đằng giang, Bạch Đằng giang
Bạch Đằng sử tích ngàn năm vẫn còn
Ngô Vương truyền lại cháu con
184. Ba đời non trẻ, nước non cấu thành
Non như vận nước mới toanh
Mới như con nước đầu ngành trên non
Em ơi, xin mở triện son
188. Khắc ghi dấu ấn huy hoàng Việt Nam (4)
*****
(1,2,3) Đây là trận chiến sau cùng vào năm 939, kết thúc chuỗi dài 1050 năm Bắc thuộc, dù trước đó có đôi lần giành độc lập thành công nhưng chẳng bao lâu lại bị thống trị, và sau này, cái mộng xâm lăng vẫn còn, nhiều phen xua
quân toan tính, kể cả vào cuối thế kỷ 20, nhưng có lẽ, người Trung Hoa, đã đến lúc không khóc ròng như triều thần Nam Hán, thì cũng ê ẩm trước sức quật khởi quật cường bất khuất của người VN, đành phải giảng hòa, cầu hòa, bang giao ngang hàng, và nể mặt VN, như sử sách và thời đại chứng minh.
(4) Ngô Quyền giành độc lập tự chủ hoàn toàn cho nước ta vào năm 939 và truyền nhau ba đời, kéo dài 26 năm (939-965).

________________________________
Triều Đại NHÀ ĐINH
Từ năm 968 đến năm 980
(từ câu 189 đến câu 214)

********
Lau chùi bóng dáng ngoại xâm
Ruột gan phơi núi tơ tằm phơi non
Nhưng rồi lồi lõm cục hòn
192. Cục hòn danh lợi bào mòn núi sông
Mười hai cái loạn sứ quân
Loạn danh loạn lợi, quân dân cấu nhàu (1)
Tí hon Bộ Lĩnh cờ lau
196. Hoa Lư tập trận, chăn trâu anh tài
Một là một, hai là hai
Tướng danh, danh tướng mấy ai sánh bằng
Mười hai bộ sứ như măng
200. Dễ hơn tre chẻ, mà băng lên đài
Đinh Tiên Hoàng Đế lên ngôi
Nước Đại Cồ Việt cho dài tâm can
Hoa Lư thiết trí đăng đàn
204. Quân dân tướng sĩ bá quan vui mừng (2)
Cờ lau Bộ Lĩnh anh hùng
Chưa dày triều chính nên chung khóc thầm
Em ơi, nên nhớ lỗi lầm
208. Khinh trưởng trọng ấu nên cầm lưỡi dao (3)
Đỗ Thích đêm lẻn vào trào
Chưa an giấc điệp máu đào tuôn rơi (4)
Cờ lau Bộ Lĩnh, em ơi !
212. Nhà Đinh kế nghiệp nửa đời không xong
Cha thì hàm én mày rồng
214. Con vừa sáu tuổi mà trông được gì (5)
*****
(1) Tục ngữ có câu “thừa nước đục thả câu”, có lẽ lúc nào cũng có, thời nào cũng có. Hễ tham vọng ít thì gây đau khổ ít, tham vọng nhiều thì gây đau khổ nhiều. Bất luận là thành phần nào, giỏi hay dở, có học hay thất học. Cái loạn 12 Sứ
Quân này, và biết bao nhiêu giai đoạn khác nữa trong lịch sử, thật đúng nghĩa với câu tục ngữ này. Nói câu này, ai cũng nói được, nhưng tránh được, phàm là người dễ được mấy ai ? Cái loạn 12 Sứ Quân này kéo dài 3 năm thì mới yên được.
(2) Đinh Bộ Lĩnh, người đất Hoa Lư, Ninh Bình. Còn gọi là Anh Hùng Tí Hon. Dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi Hoàng Đế, đóng đô tại Hoa Lư, quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Nhà Đinh không tới 2 đời, kéo dài được 12 năm (968-980)
(3) Tiên Hoàng bỏ trưởng lập ấu. Người anh giận, bèn giết em. Xin mở dấu ngoặt nơi đây, cái chữ ruột thịt, dòng họ, có lẽ chỉ đẹp lúc cơ hàn, nhưng khi giàu sang, quyền thế, lợi danh, đã diễn ra thế nào, lịch sử nước mắt quá nhiều.
Riêng chính mỗi chúng ta, đã đang sẽ sống ra sao, tự suy tự nghĩ !!!
(4) Một nha lại, một thuộc hạ, vì sao phản trắc ? Xưa nay đâu phải chỉ có một mình Đỗ Thích ??? Lịch sử phê phán, hậu thế chê cười là một chuyện, nhưng những tang thương, đổ nát, ai đền bù, ai trả được ?
(5) Sau khi cha con Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám hại, thì Đinh Toàn lên ngôi năm 980 mới 6 tuổi, tại vị được 8 tháng thì sự nghiệp Nhà Đinh chuyển sang Nhà Lê cũng cùng vào năm này. Vì vậy, Đinh Toàn còn gọi là Đinh Phế Đế.

_____________________________
NHÀ TIỀN LÊ (980 – 1009)
(Từ câu 215 đến câu 254)

***

Xin ngâm một bản trường thi
216. Ngày thì trổi nhạc đêm thì hát ca
Dương Vân Nga, Dương Vân Nga
Được như Thái Hậu quê nhà mấy ai ?
Biết việc lớn, trọng người tài
220. Việc nhà việc nước phân hai rõ ràng (1)
Ai mà chí cả đã mang
Nam hùng, nữ kiệt, định, ban, cả rồi
Tệ là cái nạn của tôi
224. Của tôi, mà phải da mồi tóc phơ
Của tôi, mà phải xác xơ
Vân Nga Thái Hậu tôn thờ chẳng phai
Lê Hoàn đáng bậc anh tài
228. Chuyển trao sự nghiệp nắng mai chan hòa
Đinh – Lê như một vườn hoa (2)
Vườn hoa hai sắc chan hòa cả hai
Nực cười Nhà Tống chạy dài
232. Hai đường thủy – bộ dép giày xốc mang
Một Bạch Đằng, một Chi Lăng
Vua Tống hống hách phải lăn phục tài (3)
Mở trang oanh liệt ngày mai
236. Đại Hành rực rỡ lên đài vinh quang (4)
Ai hay danh nghĩa Lê Hoàn
Tình riêng khen trách bồ hòn đắng cay
Cho dù là đúng là sai ?
240. Thời gian có khóc sắc tài phấn hương
Đại Hành đã vẹn đường đường
Vân Nga lại vẹn tình thương cùng chồng (5)
Tiếc là tiếc những người con
244. Tranh giành cấu xé có còn chi đâu
Tệ hơn bãi biển nương dâu
Bạc hơn sóng vỗ trên đầu trùng dương (6)
Lê Long Đĩnh, thật chán chường
248. Ô danh bốn chữ “đế vương ngọa triều”
Lật qua trang sử tiêu điều
Nhắc gì không nhắc, nhắc nhiều vô luân (7)
Biết bao cái quí để tuân
252. Có đông thu hạ thì xuân mới toàn
Có chì thiếc, có vàng son
Tiểu nhân quân tử đều trong cuộc đời (8)
**************
(1,2) Thái Hậu Dương Vân Nga, giữ kỷ cương thay con, tức Đinh Phế Đế mới 6 tuổi, lên nhiếp chánh. Vì nước không vì nhà, không vì chồng, không vì con. Và việc nước biết đặt trên việc nhà, không lấy cái chung làm cái riêng, không lấy cái riêng làm cái chung, tận trao sự nghiệp nước nhà lại cho thập đạo tướng quân Lê Hoàn, để mở ra Nhà Tiền Lê (980-1009). Dùng chữ Tiền Lê ở đây, để phân biệt với Triều Lê Lợi tức Hậu Lê sau này. Đinh Phế Đế vẫn giữ một vị trí trong triều Lê suốt 20 năm. Làm người mà có được cái nhìn, và ứng xử như Thái Hậu đâu phải dễ. Thật đáng tôn thờ !
(3) Năm 980, Nhà Tống xuất đại quân hai đường thủy bộ xâm lăng nước ta. Không ngờ một Bạch Đằng lại tái diễn, thêm một Chi Lăng trên bộ kinh hoàng. Bạch Đằng, Chi Lăng đã nhận chìm và chôn quân nhà Tống.
Và, VN đâu muốn là nơi đón nhận người phương Bắc đến để bị chôn vùi. Nhưng rất tiếc cả quá khứ, cả đường dài về sau, vẫn còn tái diễn. Họ quên mất câu :

Tiếc thay Phương Bắc dễ ngươi.
Nước Nam định sẵn cho người Phương Nam.

(4) Lê Hoàn lên ngôi tức Vua Lê Đại Hành, tạo sự nghiệp Nhà Lê được 29 năm. Đại Hành Hoàng Đế và nước ta lại thêm một lần làm cho Trung Hoa thời Nhà Tống phải ngã gục, tháo chạy về nước.
(5) Thái Hậu Vân Nga sau này lại là Hoàng Hậu của Đại Hành. Đại Hành lại là tướng quân của Bộ Lĩnh. Hoàng Đế Cờ Lau lúc sinh thời thì vợ là Vân Nga. Có trớ trêu không ? Có oan nghiệt không ? Nếu không có Vân Nga, chưa chắc có nhà Lê, nếu không có Lê, Đinh hẳn đã yên, nước hẳn đã còn ? Hơn nữa, Đinh Bộ Lĩnh đã ra người thiên cổ rồi, thì chuyện kia mới có đến sau này !!!
(6) Lại cảnh 4 anh em ruột chém giết nhau vì lợi danh quyền lực ! Tưởng sao, cuối cùng, người còn sống sót lên làm đế vương lại là Long Đĩnh. Hèn chi họ đã chém giết với nhau, tranh giành với nhau để trở thành hôn quân bạo chúa !
Chúng ta đừng vội trách quá nặng, hãy nhìn lại chính chúng ta đi ! Nhớ ngẫm :

“Gót danh lợi bùn pha sắc xám.
Mặt phong trần nắng nám mùi dâu,. . .“ ???

(7,8) Nếu không có Hạ, Thu, Đông thì làm sao có Xuân ? Ngược lại, nếu không có đá, sắt, chì thì làm sao biết được kim ngân, ngọc thạch ? Nhưng, nếu có đáng tiếc chăng, là tiếc một người ngồi trên ngôi tột đỉnh, mà lại có một cuộc sống, hành vi, bản chất không bằng một người hạ tiện trong bàng dân thiên hạ.
________________________________
Triều Đại NHÀ LÝ
Từ năm 1010 đến năm 1225
(Từ câu 255 đến câu 288)

*****

Bước sang Triều Lý rạng ngời
256. Nước non Đại Việt tuyệt vời thanh cao (1)
Tối tăm đã hiện nắng đào
Vươn từ bùn đất mới chào ánh dương
Nếu không những trải phong sương
260. Nối từng viên gạch thành đường thênh thang
Cũng đừng chỉ biết vẻ vang
Mà quên sỉ nhục, phũ phàng, đắng cay
Kết tinh lâu tháng lâu ngày
264. Ngày qua tô thắm, ngày nay huy hoàng (2)
Rồng vàng xuất hiện Thăng Long (3)
Pháp cương, đức trị, nức lòng ngợi ca (4)
Mở mang, kiến thiết nước nhà
268. Tiếng thơm vang dội thật là rạng danh
Lý Triều trung liệt hùng anh
Trong ngoài thịnh vượng an lành bốn phương
Nhớ Công Uẩn, nghĩ mà thương !
272. Nhớ Vạn Hạnh, thắp nén hương, để thờ !
Nhớ Thường Kiệt, vịnh vầng thơ
Vầng thơ bất tuyệt dưới cờ Việt Nam (5)
Xưa bất khuất, nay quyết tâm
276. Biển khơi phải dội trời xanh phải chùn
Sá gì lũ kiến chồn ong (6)
Việt Nam đâu phải dễ tròng lắm sao (7)
Em thương một mảnh má đào
280. Chiêu Hoàng phận đã trọn trao cho chồng
Dù không tát cạn biển đông
Của em không một của chồng không hai
Giang sơn một gánh còn dài
284. Tình sông nghĩa biển nào phai sắc màu
Lý – Trần cắt rốn chôn nhau
Vương dây vướng nhợ một bầu bí ơi
Nặng nợ nước, nặng nợ đời
288. Cả hai mà vẹn hết lời ngợi khen. (8)
************
(1,2,3,4) Sang Triều Lý (1010-1225), đổi tên nước Đại Việt. Đại La đổi thành Thăng Long, truyền nhau được 9 đời thái bình thịnh trị, kéo dài 215 năm. Ở đây, nên suy, Triều Ngô-Đinh-Lê ngắn ngủi, tao loạn là lẽ đương nhiên vì là cái cây mới vươn lên từ sóng gió, còn Triều Lý, và Trần sau này được như thế là hoa trái tự thành.
* Lý Công Uẩn, người làng Cổ Pháp, Hà Bắc, mất cha từ trong bụng mẹ, vừa ra đời mẹ cũng không còn. Sống, lớn lên nhờ tương chao nuôi dưỡng của Chùa Tiên Sơn, với sự dìu dắt, nương tựa đức độ của Thiền sư Vạn Hạnh. Đây là triều đại dài nhất trong lịch sử các triều đại VN, nếu không tính thời Hồng Bàng và triều đại Hùng
Vương.
Xin thương kính một em bé mồ côi trở thành bậc Minh Quân, và xin thắp một nén hương hướng về Vạn Hạnh !!!
(5,6,7) Bốn câu thơ để đời của danh tướng Lý Thường Kiệt, :
“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư . . .” như câu sấm, từ nay VN là của người VN. Dù có trải những oan nghiệt đã đang sẽ ra sao, nhưng VN vẫn mãi mãi là của người VN !
(8) Công chúa Chiêu Thánh lên ngôi tức Lý Chiêu Hoàng năm 1225, và nhường ngôi cho chồng tức Trần Cảnh lập nên nhà Trần. Lý-Trần vẫn yên thắm, sơn hà xã tắc vẫn thái bình kéo dài thêm 175 năm vàng son. Ắt hẳn đó là ân của
Nhà Lý và đức của Nhà Trần !

________________________________
Triều Đại NHÀ TRẦN
Từ năm 1225 đến năm 1400
(Từ câu 289 đến câu 330)

*******

289. Đẹp thay triều đại Lý – Trần
Non xanh nước biếc xanh ngần nước non
Ngược dòng lịch sử không hơn
292. Xuôi dòng ai bảo đẹp hơn Lý – Trần (1)
Đẹp hơn diễm ảo cẩm vân
Tinh hơn nét ngọc đã lần minh châu
Trăm năm bia đá cần cầu
296. Ngàn năm sử sách tô màu sắc son
Đã vừa Thái, Thánh, Nhân Tôn,… (2)
Lại thêm Hưng Đạo Đại Vương phi thường
Quốc Toản, Bình Trọng nhớ thương
300. Quang Khải, Nhật Duật,..tấm gương để đời
Bao nhiêu tinh túy rạng ngời
Bao nhiêu kiệt xuất cũng thời này đây
Lan từ góc biển chân mây
304. Sáng soi kim cổ đông tây khen thầm (3)
Em đi dưới ánh trăng rằm
Ngàn sao lấp lánh xa xăm gợn lòng
Ơn tổ quốc, nợ tang bồng
308. Muôn người như một Diên Hồng đưa tay (4)
Trời phải chuyển, đất phải xoay
Việt Nam sừng sững, đừng bày dễ ngươi
Nguyên-Mông Âu – Á không người (5)
312. Tiến vào Đại Việt tơi bời tan hoang
Ba lần máu đỏ còn loang
Ba lần xương trắng chồng hòn núi cao (6)
Nguyên–Mông vung vãi chiến bào
316. Ngựa tung té ngã, dẫm gào thoát thân
Gan đã nát, rủn tay chân
Van lơn qui phục triều thần Việt Nam (7)
Đường đi gác lại tơ tằm
320. Đường về để lại hoa vàng thế thân
Em thương công chúa Huyền Trân
Hai châu Ô – Lý phương gần phương xa
Đền ơn nước, báo ơn cha
324. Sắc hương ngà ngọc gởi ra núi rừng
Huyền Trân, giọt lệ rưng rưng
Ra về sao nỡ ngập ngừng phút giây
Ô hay ! Một nỗi niềm tây ?
328. Ô hay ! Chớ trách dạ này lâng lâng ? (8)
Thôi, không nói nữa Lý – Trần
330. Bốn trăm năm chỉ mấy vầng được ru !!! (9)
***********
(1,2,3) Hai triều đại Lý – Trần từ 1010 đến 1400, kéo dài 390 năm huy hoàng nhất, rạng rỡ nhất, thái bình thịnh trị nhất trong dòng lịch sử VN. Có thể nói, những nhân vật tài ba xuất chúng cũng đều xuất hiện trong thời này, để cấu thành một VN 4 thế kỷ văn võ toàn tài, vua dân toàn thiện, và mở ra trang sử dài toàn mỹ toàn chơn. Có lẽ 1000 năm Bắc thuộc đã tôi luyện nhuần nhuyễn, chín mùi, và 70 năm của ba triều Ngô-Đinh-Lê đã sàn sảy gạn lọc, quá dài, quá nhiều và quá đủ để hoàn thành một vườn hoa kỳ diễm cho Dân Tộc Việt Nam.
(4) Hội nghị Diên Hồng đã có tại VN vào thời kỳ này. Phải chăng, cha ông ta đã bằng trí tuệ, con người và tình tự dân tộc, thể hiện ý thức dân chủ trước nhân loại đến nhiều thế kỷ ?
(5,6,7) Sử sách để lại cho biết nước Trung Hoa thời Mông Cổ đã tung gót vó chiến chinh đởm lược khắp Á, Âu, đánh đâu thắng đó, nhưng ba lần tấn công xâm lược đều ba lần đại bại tại VN. Vậy mà, vẫn chưa đủ là bài học cho nước này !
(8) Thời Nhà Trần, nước ta thái bình, cực thịnh. Trong thì an cư lạc nghiệp, xây dựng quốc gia, tài bồi văn hóa, hòa hóa tam giáo đồng nguyên, thắm tô đạo đức. Ngoài thì bang giao tương nhượng bình đẳng, nhưng nếu cần, cũng không ngại thể hiện sức mãnh liệt bất khuất oai hùng biến thành trời long đất lở để dẹp tan quân xâm lược bạo tàn. Như Nguyên Mông ba lần đã chứng minh.
* Tuy nhiên, nhà Trần cũng nêu cao đức hiếu sinh, biết thương nước nhỏ và yếu hơn mình, giao hảo hiền hòa, mà câu chuyện Huyền Trân công chúa là một cách ứng xử. Đứng bên ngoài, có thể có khen chê, nhưng chúng ta không phải là Nhân Tôn ! Dù ai dù oán, nhưng chúng ta không là Huyền Trân công chúa !
Riêng tôi, thầm nhớ câu ca dao thuở nào :

“Tiếc thay Cây Quế giữa rừng,
Để cho “dây” mán “rễ” mường nó leo”

(9) 400 năm Lý – Trần vàng son, bao nhiêu sử sách mà còn thiếu còn thừa, huống chi chỉ mấy vầng thơ giản lược để đề cập cả chiều dài lịch sử huy hoàng !
_______________________________
NHÀ HỒ và HẬU TRẦN
Từ năm 1400 đến năm 1413
(Từ câu 331 đến câu 346)

*****

331. Em về thăm nước Đại Ngu
Đại Việt sao lại Đại Ngu là gì ?
Hồ Quý Ly, lỡ một khi
334. Tài không đúng chỗ trách gì tiếng tăm
Vào đầu thế kỷ mười lăm
Ép Trần kế vị lập nên Nhà Hồ (1)
Bảy năm thương ghét Nhà Hồ
338. Hai điều đáng nhớ để nhờ nghe em !
Mở ra tiền giấy đầu tiên
Lại còn đúc súng thần công trước Tàu (2)
Tài mà không lượng trước sau
342. Nhân tâm bất phục biển sầu đeo mang
Hậu Trần vá víu chóng tàn
Hết thời thịnh lạc hạ màn phải xong
Tình xưa vương nhợ đèo bồng
346. Cho tròn danh nghĩa chớ mong chi nào ! (3)
*****
(1,2) Hồ Quý Ly, người Thanh Hóa, ép Vua Trần lên ngôi năm 1400, đổi tên nước Đại Ngu, dời đô vào Thanh Hóa, sau này còn gọi Tây Đô. Có tài nhưng thiếu thiên thời, nhân hòa. Một khi đã mất lòng dân thì không chóng thì chầy sẽ chuốc họa vào thân, và 3 cha con, vừa đỡ đòn bên trong, vừa chống trả bên ngoài, sau cùng bị bắt và bỏ thân bên Tàu. Cờ trong tay chỉ vung được 7 năm.
(3) Con cháu Hậu Trần xuất hiện và chống đỡ 6 năm, nhưng cuộc cờ lẫm liệt và giai đoạn vàng son đã đến hồi kết thúc, đành nhảy xuống sông tự tử. Hành động này cũng là khí phách Nhà Trần, thật đáng khen ! Nhà Trần trước sau làm Vua được 14 đời.

_______________________________
LAM SƠN LÊ LỢI
Và Triều Đại LÊ SƠ (1428-1527)
(Từ câu 347 đến câu 382)

*****

347. Lên non mới biết non cao
Xuống biển mới biết biển khơi điệp trùng
Đường xa mới biết anh hùng
350. Ngựa hay mới biết dặm trường chưa xa
Em về thưa với mẹ cha
Đang cơn nguy biến nước nhà thuộc Minh (1)
Mười năm kháng chiến Quân Minh
354. Lam Sơn – Áo Vải xuất chinh diệt thù (2)
Bình Ngô Đại Cáo thiên thu (3)
Mười năm sương khói mịt mù khói sương
Làng quê, rừng núi, phố phường
358. Ùn ùn trai tráng lên đường tòng chinh
Chưa quên quốc nhục ngàn năm
Lại mang chính khí Lý-Trần-Đinh-Lê
Anh hùng tên Lợi họ Lê
362. Công, thương, nông, sĩ dưới cờ phạt Minh
Thương người đấu cật thay lưng
Lê Lai cứu Chúa, Lê Vương mới còn (4)
Mở ra thêm một dấu son
366. Một hai rõ nét nào ân nào thù
Thù khi ngất ngưởng gật gù
Thất tha thất thểu, ta vù mở ân
Vừa thương vừa tiếc tiễn chân
370. Họ thương họ phục lòng nhân của mình (5)
Ô kìa cành trúc xinh xinh
Trúc xinh đâu có trau mình phấn son
Tây Hồ, em gái chiếu gon
374. Chiếu gon ba mảnh, có còn không em ?
Tơ lòng kiếp trước chưa quên
Kiếp này em trả, lại thêm ba đời
Hồn em còn đó tăm hơi
378. Có ai thương tiếc đôi lời “chiếu gon”
Chiếu gon dù hết hay còn
Còn không một mảnh chiếu gon Tây Hồ ?
Trăm năm hết vận Nhà Lê
382. Nhưng em muôn thuở,
câu thề chiếu gon ! (6)
***************
(1) Khi nước ta lâm biến thì Trung Hoa xuất hiện. Và nên nhớ họ lúc nào cũng lâm le nuốt trửng VN. Khi cường thịnh thì ra bộ bang giao, khi suy vi thì không ngại xâm thực, mà lòng dạ của họ đã đầy ắp tham vọng cống cao là “thiên tử” là “Trung Quốc, có nghĩa nước lớn ở giữa”.
(2,3) Thời Nhà Trần, có Trần Hưng Đạo với Hịch Tướng Sĩ. Thời Nhà Lê, có Nguyễn Trãi với Bình Ngô Đại Cáo. Hưng Đạo giúp nhà Trần ba lần đại thắng Mông Cổ thì Nguyễn Trãi một lần giúp Lê Lợi chiến thắng quân Minh. Đó cũng là lẽ tự
nhiên mà thôi. Và Lê Lợi mở ra triều Lê Sơ 100 năm, trải qua 10 đời.
(4,5) Nhớ Lê Lợi, lại nhớ Lê Lai. Và VN ta vốn đã có nhiều Lê Lai từ xưa tới nay để bừng sáng lên ai là vương mệnh, tướng mệnh để cầm cân nẩy mực. Xin mở một dấu ngoặc ở đây, 10 năm bị đàn áp tàn bạo, nhưng khi quân Minh thất trận
qui phục, nước ta rơi lệ tiễn chân, còn cung cấp cả phương tiện nữa. Phải chăng nhờ ân đức cao dày mà tổ tiên ta đã đi trước thiên hạ nhiều thế kỷ về chính sách tù binh hàng binh !
(6) Câu chuyện Thị Lộ “chiếu gon” và danh thần quân sư Nguyễn Trãi bị ba đời tru di tam tộc, dù là lệnh nước và thân phận làm tôi, nhưng chúng ta vẫn cảm nhớ, thương tiếc cho Nguyễn Trãi và khóc thương cho cô gái Tây Hồ !!!

(Xin xem tiếp phần 2)

Thảo luận cho bài thơ: VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca * Phần 1 - Mặc Giang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *