VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca * Phần 2 và hết

(Mặc Giang)

VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca * Phần 2 và hết là bài thơ của tác giả thuộc thể loại . Mời các bạn cùng đọc và thảo luận.

NAM – BẮC TRIỀU
TRỊNH – NGUYỄN Phân Tranh
Kéo dài từ 1527 đến Tây Sơn 1788
(Từ câu 383 đến câu 426)
********
383. Khổ đau đeo mãi đèo bồng
Tang thương đeo mãi nỗi lòng héo hon
Em về nghe tiếng nỉ non
386. Em đi nghe tiếng bồ hòn đắng cay
Gần ba thế kỷ úa gầy
Sông Gianh gãy nhịp, đọa đày Bắc – Nam
Vì đâu ập phủ màu tang ?
390. Vì đâu khổ ải miên man vô cùng
Mở đầu Nhà Mạc Đăng Dung
Sáu mươi năm lẻ, trong chùn ngoài xiêu (1)
Năm mươi năm, Nam – Bắc triều
394. Nam–Lê, Bắc–Mạc tiêu điều núi sông (2)
Hậu Lê rối tựa tơ bòng
Biến thành Trịnh-Nguyễn, Đàng Trong-Đàng Ngoài (3)
Nồi da xáo thịt tơi bời
398. Hai trăm năm nữa rụng rời thịt da
Hai bên Trịnh – Nguyễn một nhà (4)
Vì say quyền lực mà ra thế này
Quay lưng chặt đứt chân tay
402. Bằm tan thân thể tháng ngày chưa nguôi
Bằm nhừ, bằm tới, bằm lui
Bằm lên bằm xuống bằm nhùi tan hoang
Máu đâu còn nữa để loang ???
406. Thịt đâu còn nữa để còn mai sau !!!
Thân đi không có mái đầu
Tay chân không có xỏ xâu đem về
Đem về mà đắp bờ đê
410. Đắp sông đắp núi ê chề nghe em ! (5)
Tìm trong le lói sao đêm
Tối tăm mới biết, hết thèm canh thâu
Tìm trong bãi biển nương dâu !
414. Bước chân đã mỏi, cuối đầu Cà Mau (6)
Thương Chiêm Thành cuốn bờ lau
Thương Chân Lạp, nước chìm sâu dưới cầu
Qua cầu dừng bước bên cầu
418. Nước lung linh mãi chân cầu dặm soi (7)
Còn kia, hai ánh sao rơi
Một Lê Chiêu Thống rước voi về nhà
Chạy sang tận Pháp, Xiêm La
422. Thêm một Chúa Nguyễn bôn ba cậy nhờ (8)
Tan đi cho hết vật vờ !
Cuốn đi cho tận cuối bờ trầm kha !
Còn chăng là những mồ ma ???
426. Gần ba thế kỷ, quốc đà kêu sương !!! (9)
********
(1) Mạc Đăng Dung người Hải Dương tiếp nối Lê Sơ nhưng cơ nghiệp không thành, cho đất nước biến thành Nam – Bắc triều tang tóc hơn 50 năm. Từ Hậu Lê sản sanh Trịnh – Nguyễn Phân Tranh kéo dài cả 200 năm, lấy Sông Gianh chia đôi và từ đó, cảnh nồi da xáo thịt cay nghiệt nhất, tang thương nhất, dai dẳng nhất trong lịch sử 5000 năm của Dân Tộc.
(2,3) Dù Nhà Mạc, rồi Vua Lê Chúa Trịnh Đàng Ngoài có làm được gì ? Nam triều rồi Chúa Nguyễn Đàng Trong có làm được gì ? Những thành công đó có đủ để trả lại 261 năm xương máu của dân tộc, và hàn gắn 261 năm dày nát non sông ???
(4) Khởi đầu giúp Nhà Hậu Lê, vì không thần phục Nhà Mạc, là cha vợ con rể Nguyễn Kim – Trịnh Kiểm. Từ giúp Vua giúp nước biến thành cha con, anh em, rồi kéo theo cả dòng họ, cả dân tộc, cả đất nước lâm vào cảnh nồi da bại hoại 261 năm. Yêu nước ư ? Quyền lực ư ? Danh vọng ư ? Còn chúng ta, sống ra sao đối với gia đình ? Đối với quê hương ? Đối với đất nước ?
(5) Chiến tranh là như thế. Tàn cuộc là đầu rơi, tay chân đứt lìa, thân thể nát tan mà hốt, mà xâu từng bó đem về mà chôn tập thể, vì không thể nhận diện !!!
(6) Đứng về mặt mở mang đất nước, Việt Nam chúng ta đến thời này đã kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Vì có lẽ hình thái quê hương đã ẩn trong chữ “S”, hai đầu bao la, chính giữa nhỏ lại, như Người Cha Việt Nam gánh cả giang sơn, như Người Mẹ Việt Nam gánh cả nước non, chứ đầu bên kia, nếu tiến xa hơn nữa về Phía Tây, hay xa hơn ra Phía Bắc, thì hình thể của nước Việt Nam đã khác !!!
(7) Trên quê hương Miền Trung VN còn nhiều ngọn Tháp điêu tàn, dù muốn dù không, nhất là đọc vài bài thơ của Chế Lan Viên, nghe vài tiếng hát của Chế Linh, hay nhìn một ít người đầu quấn khăn, thân quấn xà rông, về tính giang
sơn xin tạm gác lại, về tính tình tự, vẫn nghe một nỗi khắc khoải, u hoài !!!
(8) Lại thêm một vị Vua cầu cứu Bắc phương, bao bài học đã qua đâu cần nghĩ tới, Ông Vua này đã đưa đến một hậu quả, may nhờ có Quang Trung xuất hiện chứ không thì VN dễ gì thoát khỏi cái ách đã bị tròng lên ??? Nhưng rất tiếc, một cái ách xa hơn, lại từ Chúa Nguyễn mở đường cho họ xâm thực nước ta sau này !!!
(9) Nhớ lại Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Ở đây, con quốc đã 261 năm trường có còn nước miếng để kêu, có còn hơi để lên tiếng nữa không ? Không biết con quốc của Bà Huyện là con quốc nào ???
****************
NGUYỄN TÂY SƠN 1778-1802
(Từ câu 427 đến câu 458)
********
An Khê, Bình Định quê hương
Đất cày sỏi đá, kim cương cũng cày
Nếu không sỏi đá xưa nay
430. Bao nhiêu thành quách ai bày đứng yên
Quang Trung Nguyễn Huệ lên yên
Ba quân tướng sĩ, khiếp liền chạy tan
Bắc bình Nam phạt chỉnh trang
434. Bình Vương Nguyễn Huệ sấm vang dậy trời
Xuất quân như chỗ không người
Nhà Thanh ngã gục tơi bời Đống Đa (1)
Tây Sơn quét sạch nước nhà
438. Bao nhiêu rác rưới tiêu ma cấp kỳ (2)
Nửa đường Lưỡng Quảng lượng suy (3)
Nửa đường thôi hết, lỡ thì Quang Trung
Quang Trung ơi ! hỡi Quang Trung !
442. Anh hùng hơn những anh hùng xưa nay
Một nhật lệnh, khói mù bay
Một bước chân, vạn dấu giày phải rung
Nhà Thanh cũng phải hãi hùng
446. Thỉnh ngai rước kiệu cùng chung giải hòa (4)
Một Hưng Đạo, thắm rừng hoa
Một Nguyễn Huệ, chớp sáng lòa đỉnh cao
Bước chân chưa vẹt chiến bào
450. Vầng trăng vụt tắt, ngàn sao chập chùng
Còn đâu nữa, hỡi Quang Trung !
Mới bốn mươi, đã mệnh chung xuất thần (5)
Em thương công chúa Ngọc Hân
454. Em thương Công chúa – Càn Long tuyệt trần (6)
Xót thay mờ khói Phú Xuân
Hương không chỗ tụ, chập chờn hồn ai ? (7)
Quang Trung ngủ dưới tuyền đài
458. Gia Long kế đó lên ngai Hàm Rồng (8)
*******
(1,3) 20 vạn quân Thanh ngã gục tại Đống Đa, tiếp tục truy quét, đang tiến tới một nửa Lưỡng Quảng thì tạm dừng chân. Nếu Quang Trung còn, chưa biết phía Bắc nước VN sẽ ở vị trí nào ?
(2) Nhà Nguyễn Tây Sơn kéo dài 24 năm, tuy có ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ, nhưng nếu không có người ở giữa thì hai người kia chưa chắc làm nên chuyện lớn, mà lịch sử để lại đã đủ chứng minh.
(4,5,6) Thừa thắng Đống Đa năm 1788, đang tiến tới nửa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, tạm cho nghỉ quân. Quang Trung Hoàng Đế lo chỉnh trang đất nước, về kinh đô Phú Xuân để vừa giữ Bắc phòng Nam. Vua Càn Long vừa muốn kết giao hai nước, vừa mến tài đảm lược nên đã bằng lòng gả một công chúa do Quang Trung chọn lựa, để tạo mối thâm tình, và giao Lưỡng Quảng cho Quang Trung cai quản. Chẳng may tuổi mới 40 đã băng hà, đất hai Quảng chỉ còn là câu chuyện. Và nếu Quang Trung còn thì VN sau đó chưa biết sẽ ra sao ?
(7) Ai có tưởng Quang Trung thì truy niệm, chứ nấm mộ còn đâu mà khói mà hương !!! Có trách là trách Nguyễn Ánh khi lên ngôi, vì mối thù bôn tẩu, đã quật mồ Quang Trung rồi ném xuống biển. Tấm lòng một vị vua mà như vậy, thật đáng tiếc !
(8) Quang Trung băng hà năm 1792, vậy mà mãi đến 10 năm sau, Chúa Nguyễn Ánh mới thống nhất được nước nhà vào năm 1802.
****************************
Triều NGUYỄN GIA LONG
Triều Đại Vua Chúa cuối cùng của Việt Nam
Từ năm 1802 đến năm 1945
(Từ câu 459 đến câu 506)
********
Lựa là núi núi sông sông
Lựa là phù ảnh tang bồng lung linh
Em về đất Huế thần kinh (1)
462. Thăm Triều Nguyễn, nước non mình nghe em
Bước đi từng bậc cung thềm
Nghe trong gió thoảng nghe mềm tâm tư
Cố đô trầm lặng bao chừ !
466. Vân Lâu, Núi Ngự, bóng đò Hương Giang
Lâu đài, cung điện huy hoàng
Dòng thời gian, đã phủ mòn gió sương
Trường Tiền gõ nhịp còn vương
470. Nào ai đưa đẩy nhớ thương một thời
Nhớ Hoàng Triều, khuất xa khơi ! (2)
Nhớ Thuận An, nước đầy vơi sóng dồn
Thời gian sỏi đá cũng mòn
474. Cuối cùng, Bảo Đại cựu hoàng theo mây
Mây mờ tận cuối trời Tây (3)
Còn Nghi – Tân nữa, lòng này xót xa (4)
Nam Kỳ lục tỉnh, em qua
478. Phan Thanh, Minh Giảng la đà nghe em ! (5)
Em thương tổ quốc Việt Nam (6)
Em thương quốc ngữ Việt Nam rõ ràng
Chỉ bao chữ, dấu gọn gàng
482. Học vần xuôi ngược lẹ làng là xong
Lại càng đa phú đa phong
Rồng bay phượng múa chỉ trong mấy vần
Thay cho chữ viết lần quần
492. Nào Nôm nào Hán dễ lầm lộn nhau
Học chữ trước, quên chữ sau
Nhớ sau quên trước mà đau cái đầu
Qua cầu, lại nói qua cầu
496. Cầu bao nhiêu nhịp, có cầu “nghĩa ân” ?
Là Việt Nam, đã có ân
Là chữ Việt, cũng có phần Nguyễn Gia (7).
Em thương nước em thương nhà
500 “Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”
Kìa Từ Dũ ! Nọ Nam Phương ! (8)
Em mang tiếng khóc lên đường biết không ?
Nước ơi, cứ đổ về sông
504 Hoa ơi cứ cuốn theo dòng buông trôi
Vừa mang tiếng khóc chào đời
506. Đã mang tiếng nói con người Việt Nam !!!
********
(1,2) Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, đặt quốc hiệu Việt Nam, kinh đô tại Huế, đây là triều đại Vua Chúa cuối cùng của nước VN, kéo dài đến năm 1945.
* Nhà Nguyễn gần gũi tới thời cận đại của đầu nửa thế kỷ 20, nhiều âm vang thời này vẫn còn. Hơn nữa, triều Nguyễn Gia Long còn để lại khá nhiều tàn tích cho VN, Huế cố đô còn đó, tên nước Việt Nam đang dùng, chữ nước Việt Nam đang gọi, làm sao không nhớ không thương và làm sao quên được !!!
(3,4) Bảo Đại, vị vua cuối cùng của VN mất tại Pháp mới đây, với 50 năm lưu vong. Chợt lại nhớ Vua Hàm Nghi, Duy Tân, vì yêu nước phải mất tận Phi Châu trong cuộc sống lưu đày. Để em có nghe “Con đường Duy Tân, cây mát bóng mát,…” ?
(5) Đi đường Phan Thanh Giản, Trương Minh Giảng tại Sài Gòn, hay trên những phố thị đó đây. Một vị là Trấn Tây thành tức Cam Bốt bây giờ, bị bịnh mất tại An Giang, một vị tuẫn tiết bỡi Nam Kỳ Lục Tỉnh thất thủ. Ai còn nhớ không ?
(6,7) Tên nước Việt Nam được đặt vào năm 1804, sau 2 năm Gia Long lên ngôi, và chữ Việt trở thành chữ quốc ngữ VN ngày nay, cho dù Bá Đa Lộc là vị khai tổ, nhưng cũng có phần của Triều Nguyễn vậy !
(8) Trước khi kết thúc Triều Nguyễn, xin nhắc lại :
a) Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho câu sấm : “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” để báo trước dòng dõi Chúa Nguyễn về sau.
b) Chúa Nguyễn Hoàng nằm mơ có thấy một người đàn bà từ trên trời xuống báo mộng, nên xây một ngôi chùa tại địa điểm nầy thì tự thân mới an, cơ nghiệp mới thành. Nên ngôi chùa được trùng tu, sắc tứ, các Chúa Nguyễn và nhân gian có khi gọi là Linh Mụ, có khi là Thiên Mụ.
c) Bảo sanh viện Từ Dũ tại Sài Gòn được đặt tên Mẫu hậu của Vua Tự Đức và là Hoàng thái hậu Vua Hàm Nghi. Khi Hàm Nghi bị Pháp bắt mới 16 tuổi, đày sang Phi Châu, rồi chết tại đó sau này, thì Bà Từ Dũ đưa các cung phi, cung tần, mỹ nữ, đàn bà ốm yếu, trẻ thơ về Kinh chăm sóc. Có lẽ từ đó, để tưởng nhớ tới bà, xem như một người mẹ bảo bọc cho những đứa con thơ, mà Bảo sanh viện được chọn tên Từ Dũ, mang danh của Bà. Và tôi xin nhắc tới Bà Nam Phương, để nhớ tới một Hoàng hậu sau cùng của vua chúa Việt Nam.
*********************************
Một Cái Nhìn Về PHƯƠNG TÂY
(Từ câu 507 đến câu 570)
*******
Vàng xanh đỏ trắng lam lam
508. Còn đen còn xám biết kham sao này !
Cái thời xâm thực mới gay
Người Tây Phương, họ cố bày cuộc chơi
Họ dùng thủ thuật khơi khơi
512. Bán buôn, truyền giáo khắp nơi khắp vùng
Nơi nào đóng cửa quay lưng
Họ vung khí giới, đùng đùng dọa đe
Thực dân một lũ một bè
516. Bán dân, rao đạo cá mè giống nhau !
Thương nhân, Giáo sĩ một tàu
Tới đâu, không trước thì sau cũng vùi
Một khi họ đã tới lui
520. Thuộc địa, đô hộ cùng nhùi cả lên
Phân chia đi khắp lền khên
Năm châu bốn biển có quên chỗ nào
Thuộc địa, giáo địa cùng đào
524. Cùng xâm, cùng thực, cùng gào, cùng la (1)
Cùng vơ, cùng vét, cùng chà
Cùng moi, cùng móc, cùng tha về nhà
Đã năm thế kỷ trôi qua
528. Cuối đà xâm thực, vậy mà không yên
Châu Phi chết chóc triền miên
Trung Đông, Châu Á đảo điên rợn mình
Còn kia, Châu Mỹ – La Tinh
532. Châu Âu cũng thế, rung rinh từng vùng
Đã là Đạo ! Chẳng tương dung ?
Lại thêm chủng tộc, phát khùng lên không ?
Chiến tranh cứ thế ! Lên nòng
536. Oán thù cứ thế ! Móc tròng lên nhau
Còn thêm đen, đỏ, trắng, màu
Khinh khi, kỳ thị khổ đau dậy trời
Cũng chính họ cho ra đời
540. Tư bản – Cộng sản tơi bời dập nhau
Thế giới từ đó cuốn màu
Một màu Cộng Sản, một màu Tự Do
Lưng chừng, nhũn nhẵn, cân đo
544. Biến thành Trung Lập thập thò hai bên
Thế thời, thời thế tạo nên
Đường nào cũng lún, bấp bênh đường nào
Bước ra, chân đã vướng vào
548. Bước vào lại dính, chân nào bước ra ?
Gập ghềnh đày ải phong ba
Gần một thế kỷ đâu đà đã xong !
Đạn bom Hai Khối trời long
552. Đất còn lún lở, mà mong chi người
Khối Kia đâu có êm xuôi
Cũng đánh, cánh đấm, cũng bươi, cũng tầm
Ngắc ngư tận cuối đường hầm
556. Ba đường gặp lại, âm thầm nhắc thôi
Bày trò xâm thực : lỗi thời
Bày trò lưỡng cực : mà nhồi mà thưng
Bày trò giải thực : đọ chừng
560. Bày trò dân chủ, nhân quyền : đu dây
Nhìn xem thế giới hôm nay
Bao nhiêu cái thứ đã bày ra kia
Từng quốc gia, đã yên chưa ?
564. Khắp năm châu, đã đẩy đưa thế nào ?
Nước tiên tiến, khuấy lao chao
Nước chậm tiến, loạn cào cào khó khăn
Vì Trí – Đức thiếu cân bằng
568. Vì Mạnh – Yếu mà đẩy, đằng, thúc, thoi
Vì thế lực mà đãi bôi
570. Còn tình nhân loại, hạ hồi tính sau !!!
*********
(1) Các nước Tây Phương bắt đầu tìm thị trường buôn bán, người của họ vốn theo đạo Ki Tô, nên cũng theo bước chân đó lan đi. Hễ nơi nào dễ bị khuất phục bỡi hào quang vật chất, để họ mở thị trường và người của họ tự do vừa truyền giáo
vừa ban bố phần nào vật chất, thì nơi đó sẽ mang cái ách nhẹ hơn. Hễ nơi nào cứng rắn, cấm cản, thì họ gào, họ la và trước sau gì cũng có chuyện.
Xanh : Tư Bản ;
Đỏ : Cộng Sản ;
Đen : Quân Phiệt ;
Lam : nô lệ ;
Trắng : đầu hàng
Vàng : Trung Lập nửa mùa ;
Xám : Bản chất các thể chế.
* Bài này, sơ lược tính thực dân của những nước thực dân bắt đầu từ thế kỷ 15 trở đi cho tới hôm nay. Từ hình thái đó biến thành Thực dân, Tư Bản, Cộng Sản, Trung Lập, mà tất cả các quốc gia, tự cuốn vào không khối nầy thì khối kia, rồi chậm tiến, tiến bộ hay siêu cường. Lại rêu rao tự do, dân chủ, nhân quyền nhưng là những mỹ từ mà kẻ mạnh lúc nào cũng hơn. Vì vậy, thế giới chưa yên được, nhân loại chưa yên được. Đạn bom ba khối đã đổ ra, trời còn long, đất còn lở, huống chi con người.
Và tài nguyên để chạy đua vũ khí lo phòng, chống, đỡ, mà dừng lại được, để dùng vào mục tiêu nhân sinh, môi trường, . . . và hàn gắn lại những đổ vỡ thì cuộc sống con người sẽ an lành thay, trái đất sẽ an lành thay !!!
********************************
VIỆT NAM Trăm Năm Pháp Thuộc
(Từ câu 571 đến câu 616)
********
571. Em ơi, nói nữa chi đau
Về thăm lịch sử từ lâu quê nhà
Việt Nam những luống can qua
574. Địa dư không thể thoát ra cái vòng
Cái vòng truyền giáo cong cong
Cái vòng mua bán, lòng thòng thực dân
Đã từ thế kỷ mười lăm
578. Cả hai thứ ấy ăn nằm nước ta (1)
Khi nói gần, khi nói xa
Cái màn xâm thực hiện ra cả rồi
Đời Thiệu Trị, họ châm ngòi (2)
582. Đến đời Tự Đức, coi mòi không xong (3)
Hai lần đại bác đì đùng
Hai lần Đà Nẵng, lưng tròng đứng trông
Rồi thì Ba tỉnh Miền Đông
586. Miền Tây Ba tỉnh cũng vong theo ngày
Miền Nam tự trị từ đây (4)
Miền Bắc thuộc địa, lan lây mấy hồi
Miền Trung bảo hộ, ôi thôi
590. Ba Miền nước Việt đến hồi tang thương
Xéo dày cho nát quê hương
Trăm năm Pháp thuộc, trăm đường âm u
Đường đi kháng chiến mịt mù
594. Đường vào thăm thẳm ngục tù mở ra
Đường thì đày ải châu sa
Đồn điền, phu tải, thịt da lưng còng
Hàm Nghi mang nỗi hờn vong (5)
598. Thanh Giảng tuẫn tiết trôi dòng vấn vương
Em thương Hoàng Diệu, Tri Phương (6)
Phận làm tướng, chỉ một đường tử sinh
Duy Tân biệt xứ một mình (7)
602. Huế Triều nuốt ngậm điêu linh âm thầm
Cả dân tộc, khối hờn căm
Cả quê hương, bóng ngoại xâm phủ mờ
Cần Vương lên ải mịt mờ (8)
606. Văn Thân gắng gượng xác xơ não nùng (9)
Đông Kinh Nghĩa Thục, điệp trùng (10)
Tiếng lòng cứu nước đều cùng đứng lên
Đường đi kháng chiến thênh thênh
610. Khi nào hết giặc, quê mình mới thôi
Hoàng Hoa Thám, tựa núi đồi (11)
Nguyễn Trung Trực, mượn con mồi hiếu ân (12)
Em thương Thái Học vong thân
614. Còn quay nhìn, lưỡi dao đâm vào người
Trước khi chết, ngạo nghễ cười
Hôm nay ta chết, mai người Pháp tây (13)
Tù đày, xử tử, phanh thây
618. Biết bao liệt sĩ tháng ngày âm vang
Em thương Cô Bắc, Cô Giang (14)
Tuổi còn xuân, gãy nửa đàng, em ơi !
Bắc – Giang, về với chơi vơi
622. Em theo Trưng-Triệu, muôn đời nhớ thương
Em đi khắp phố khắp phường
Từng đốt xương, nối con đường quê hương (15)
Ba Kỳ, hai chữ đoạn trường
626. Một Kỳ đã khổ, còn vương Ba Kỳ (16)
Bắc Nam Trung đẹp thế ni !
Đừng kêu đừng gọi Ba Kỳ nữa nghe !
Võng đưa kẽo kẹt trưa hè
630. Em ơi, có cảm tiếng ve kêu sầu
Sầu ai réo tận canh thâu !
632. Khóc ai réo tận tinh cầu lan xa !!!
*********
(1) Những doanh nhân và những nhà truyền giáo các nước Pháp, Bồ, Hòa Lan đã có mặt tại VN rất sớm, từ những thế kỷ 15 trở đi rồi.
(2,3) Nói nặng với kẻ mạnh đã mệt, mà máu của kẻ mạnh đã đổ ra, thiếu tinh tế, bén nhạy để nhìn tình hình, cái trục quay đang chuyển, nghiền những sức cản yếu đuối, lại còn hà khắc, bảo thủ, thì đương nhiên phải có chuyện. Và năm 1847 đời Thiệu Trị, năm 1857 đời Tự Đức, 2 lần súng nổ là 2 lần báo hiệu với khoảng cách 10 năm, cho biết đất nước ta đã được chấm điểm và chấm tọa độ rồi. Vậy mà để đến nhất quá tam là xong !!!
(4) Sau tiếng súng lần thứ 2 bắn vào cửa biển Đà Nẵng mà triều thần Tự Đức chưa bừng tỉnh. Hai năm sau 1859, Pháp chính thức tấn công xâm chiếm Vũng Tàu, Sài Gòn. Năm 1861 chiếm Định Tường. Mất 3 tỉnh miền Đông : Gia Định, Biên Hòa, Định Tường. Năm 1882, mất tiếp 3 tỉnh miền Tây : An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long. Phan Thanh Giảng đã tuẫn tiết vì mất Nam Kỳ Lục Tỉnh.
(5) Năm 1883, Pháp tấn công Miền Bắc, tấn công Hà Nội, Nguyễn Tri Phương bị thương, không chịu băng bó, không chịu ăn uống rồi chết. Hoàng Diệu tiếp tục chống cự nhưng chẳng bao lâu Hà Nội bị thất thủ. Ông đã treo cổ tự tử.
(6) Hòa ước Patenôtre 1884, nước ta bị Pháp thuộc hoàn toàn : Miền Nam tự trị, Miền Bắc thuộc địa, Miền Trung bảo hộ. Vua Hàm Nghi và các trung thần lập kế hoạch chống Pháp. Phong trào Cần Vương nổi lên, Hàm Nghi là linh hồn của
phong trào này. Năm 1888, nhà vua bị bắt.
Khâm phục một vị Vua mới 16 tuổi đã nói : "nước đã mất, nhà đã tan, thân tôi nào đáng gì, mấy ông làm gì thì làm". Vì không mua chuộc được, nên bị đày đi Algérie, thuộc địa của Pháp ở Phi Châu. Rồi chết tại đó.
(7,8,9) Vua Duy Tân, chưa đầy 16 tuổi đã nói : “Tay dơ lấy nước rửa, nước dơ lấy gì rửa ?”, lời nói của Nhà Vua có khác ! Ai mà không Cần Vương cho được ? Ai mà không Văn Thân cho được ? Vua bị bắt năm 1916, mới 16 tuổi, nhốt 10 ngày tại đồn Mang Cá, rồi đày đi Phi Châu, chết tại xứ người.
* Hai nhà vua Hàm Nghi, Duy Tân còn như thế, thành ra bao nhà cách mạng không lên đường sao được, dù bị tử trận, tù đày, xử tử, cũng chỉ vì nước vì dân.
(10) Đông Kinh Nghĩa Thục được khai sinh năm 1904 bỡi nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, và kẻ đồng sàng Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền…
(11) Hoàng Hoa Thám, con hùm xám Yên Thế, khét tiếng những vùng đồi núi Bắc Việt với 26 năm trường dai dẳng đấu tranh, chết năm 1913.
(12) Khét tiếng Miền Nam có Nguyễn Trung Trực “Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa. Kiếm bạt Kiên Giang khắp quỉ thần”, Pháp phải dùng quỉ kế “bắt mẹ làm mồi", và Ông bị bắt, bị tử hình năm 1868.
(13) Nguyễn Thái Học, một sinh viên, 25 tuổi đã là lãnh tụ Quốc Dân Đảng, bị bắt cùng 12 chí sĩ bước lên đoạn đầu đài Yên Bái năm 1930, Thái Học vừa tròn 28 tuổi.
(14) Tức Nguyễn Thị Bắc, Nguyễn Thị Giang, hai chị em ruột, sinh tại Bắc Giang, nên cha mẹ đặt tên cô chị là Bắc, cô em là Giang. Phong trào Yên Bái thất bại, cô Bắc bị giam, tự tử trong tù trước khi đưa ra hành quyết. Cô Giang, một nữ đảng viên, hôn thê của Thái Học, cô chưa bị bắt, tính phá pháp trường, nhưng không được, cô
nhìn tận mắt 13 anh hùng Yên Bái lên đoạn đầu đài, rồi cô tìm về Vĩnh Yên, quê quán cố nhân, thắp một nén hương truy niệm, và kết liễu đời mình, được 22 tuổi.
(15) Từng con đường thành phố của quê hương, nào Hùng Vương, Thái Tổ, Hưng Đạo, Quang Trung, Nào Trưng Vương, Bà Triệu, Cô Bắc, Cô Giang, . . . Anh có nghe ? Chị có nghe ? Em có nghe ? Tôi có nghe và ai có nghe ???
(16) Danh từ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ là hình ảnh đau thương 100 Pháp thuộc, cái từ để phân chia, phân hóa, ngăn cách, và có thể hàm ý ai oán, hận thù. Đúng ra, nó đã bị tự diệt theo Pháp từ ngày biến khỏi VN, ta không nên dùng và không nên để nó tồn tạị. Bắc Nam Trung là địa dư, chứ đã là người VN thì đâu nên ám thị quá nặng người Bắc Kỳ, người Trung Kỳ, người Nam Kỳ cho Mẹ Việt Nam đau khổ !!!
*************************
Năm Năm Người NHẬT Xuất Hiện
Và Chín Năm Người PHÁP Quay Lại
(Từ câu 633 đến câu 666)
********
Nhìn thêm chút nữa chưa qua
634. Chiến tranh thế giới xảy ra hai thời (1)
Năm châu bốn biển nơi nơi
Đạn bay bom xéo tơi bời muôn phương
Nhìn về thân phận quê hương
636. Việt Nam đâu có thoát đường tóc tang
Nực cười đất nước Phù Tang (2)
Tròng hia bảy dặm, vượt ngàn biển khơi
Năm năm kế sách động trời
642. Thực dân, quân phiệt, ai người ách tai (3)
Ất Dậu chết đói, chết dài
Chết la, chết liệt đến hai triệu người (4)
Việt Nam vựa lúa xinh tươi
646. Lúa đâu biến mất, khóc cười với ai ?
Văn minh, tiến bộ khôi hài
Lòng lang, dạ thú phơi bày thối tha
Chiến tranh đệ nhị hết đà
650. Nhật mang cờ trắng về nhà đóng khung
Tưởng rằng xâm thực cáo chung
Bàn tay lông lá chập chùng phủ lên
Mượn giải giới để trùm mền
654. Phân chia thế giới trùm lền khắp nơi (5)
Việt Nam mình đó em ơi !
Chín năm Pháp nữa, tơi bời không thôi
Tiếng kháng chiến, vọng nức đồi
658. Tiếng hồn đau, vọng xa xôi đáy mồ
Thương anh lính chiến xương khô
Thương em thiếu phụ khăn sô quấn đầu
Thương Mẹ Quê, khóc ưu sầu
662. Thương em bé nhỏ dãi dầu không cha
Chín năm một mảnh quê nhà
Trăm năm Pháp thuộc cũng là thuộc Tây
Năm Mươi Tư, cuốn trời mây (6)
666. Việt Nam sao nữa, em nầy, biết không ?
***************
(1) Thế giới chiến tranh đệ I : 1914-1918 ; Đệ II : 1939-1945 cùng thế kỷ 20.
(2) Khối trục Đức, Ý, Nhật chủ động và phát khởi chiến tranh thế giới đệ nhị. Nhật Bản chiếm toàn bộ Đông Dương, trong đó có Việt Nam từ năm 1940 đến năm 1945, thay thế Pháp. Khi đồng minh thắng Trục thì Nhật đầu hàng vô đìều kiện, quân Nhật đóng tại nước ta phải rút về.
(3,4) Pháp, Nhật cùng cai trị VN và năm Ất Dậu 1945, gạo thóc biến mất, 2 triệu người Việt Nam phải chết đói, không căm thù nhưng ta không quên : Một Ba Lê, thủ đô ánh sáng, và một Đông Kinh, Thái dương Thần Nữ !!!
(5) Đệ II thế chiến kết thúc, những nước gọi là đồng minh đứng trong thế lưỡng cực tự họ khoanh vùng, phân chia, chấm điểm cài răng lược khắp các quốc gia, mà những nước nhỏ, tự bị cuốn theo, và bị trùm lên cái mền được phủ sẵn. Mọi đỡ, chống là chỉ để co để duỗi sao cho khỏi bị nắng táp ba đào, phải thế không ???
(6) Năm 1954, cái mền của Pháp đã hết hiệu nghiệm trên quê hương Việt Nam. Những 90 năm rồi 9 năm quay lại nữa. Đã trùm đã phủ rồi.
Trăm năm đô hộ còn gì ? Trăm năm đô hộ còn chi ?
***************************
Một Mốc THỜI GIAN
(Từ câu 667 đến câu 694)
********
Xuân chưa hết, đã vào đông
Oi nồng mùa hạ đã lồng thu phong
Nhìn trông ngọn lá thu phong
670. Lá thu tàn tạ theo dòng thời gian
Nhìn trông ngọn lá thu vàng
Lá vàng rơi rụng bẽ bàng bờ cây
Nhìn trông ngọn gió heo may
674. Trời vừa hanh nắng chưa ngày lại đêm
Năm Tư chia cách Hai Miền
Tình Nam nghĩa Bắc nỗi niềm chưa xong ?
Kìa Bến Hải, chỉ một dòng
678. Sao phân Nam–Bắc để thòng tang thương
Hăm mốt năm, rẽ hai đường
Hai đường làm ngập máu xương dân mình
Mịt mù khói lửa chiến chinh
682. Nát thân con Việt, nát mình núi sông
Nát cả ruộng, nát cả đồng
Nát phường, nát phố, nát chồng lên cao
Một tấc đất, đẫm máu đào
686. Lượm từ tấc đất, đất cào thịt da
Là xương là thịt ông cha
Là con là cháu một nhà, khác chi ?
Em ơi ! Sao nặng bờ mi ?
690. Chảy ròng lên má, nước gì hở em !!!
Ru em nước mắt ngủ êm
Còn non còn nước thì em vẫn còn
Bảy Lăm, một dấu chấm thêm
694. Cùng bao dấu chấm trên thềm quê hương
*************
EM TÔI, CÒN ĐÓ QUÊ HƯƠNG
Lịch Sử Nối Dài
(Từ câu 695 đến câu 722)
**********
695. Em đi, lòng những vấn vương
Em về, lòng những nhớ thương muôn đời
Em đi, mang nặng xa khơi
698. Em về, mang nặng đầy vơi bên dòng
Em đi, lòng nhớ dặn lòng
Em về, đếm lại chờ mong đợi chờ
Non ơi ! Đứng đó ! Bao giờ !
702. Nước ơi ! Đứng đó ! Bên bờ lên non !
Trăm năm, núi cũng núi non
Ngàn năm, nước cũng nước non bên bờ
Em đi, trong mộng trong mơ
706. Năm ngàn năm, đã đợi chờ thật lâu !
Dòng lịch sử, bãi nương dâu
Nhục vinh, vinh nhục ngập đầu núi sông
Một nét nhục, cũng phải lồng
710. Một nét vinh, cũng phải trông, mới là !
Nước là nước, nhà là nhà
Nhà là của nước, nước là của sông
Em ơi, con Lạc cháu Hồng
714. Em ơi, dòng dõi con Rồng cháu Tiên
Quê hương còn đó, Ba Miền
Việt Nam còn đó, núi liền với sông
Trường Sơn có thấu Biển Đông !
718. Thái Bình có thấu Sông Hồng, Cửu Long !
Đồng Nai đứng đợi cuối dòng
Nước bao nhiêu nữa, cũng nguồn mà ra
VIỆT NAM, non nước một nhà
722. NĂM NGÀN NĂM nữa cũng là VIỆT NAM !!!
*********
Việt Nam Thi Sử Hùng Ca, Phần 1 và Phần 2,
của tác giả Mặc Giang
Đưa lên Lương Sơn Thi Đàn
Hoàn tất ngày 08 tháng 8 năm 2005
macgiang@y7mail.com
>>Trang Mặc Giang

Thảo luận cho bài thơ: VIỆT NAM Thi Sử Hùng Ca * Phần 2 và hết - Mặc Giang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *